Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 57

Kỳ 57: Trung Quốc trước hiểm họa chiến tranh nguyên tử
Kỳ 58: Stalin với điệp viên huyền thoại George Koval
Kỳ 59: Mỹ từng dự tính ném 300 quả bom nguyên tử xuống Liên Xô.

Kỳ 57: Trung Quốc trước hiểm họa chiến tranh nguyên tử

Giao Hưởng Đăng Bởi Một Thế Giới – 24-09-2014

Lúc viện binh của Mao Trạch Đông đẩy lùi quân Mỹ xuống phía Nam vĩ tuyến 38, tổng thống Truman đã cho chuyển một số bom nguyên tử đến sân bay quân sự của Liên đoàn oanh tạc cơ số 9 – đợi lệnh cất cánh hủy diệt miền Đông bắc Trung Quốc.


Trước sự can thiệp mạnh mẽ của Mao Trạch Đông, Tướng MacArthur đề xuất
Tổng thống Truman ném ít nhất 30 quả bom nguyên tử xuống lãnh thổ Trung Quốc

Sau những tổn thất nặng nề, liên quân Mỹ – LHQ và Hàn Quốc phải lùi sâu về hướng Nam, để lại sau lưng “khoảng trống chiến thuật” ở phía Bắc Triều Tiên và luồng “không khí lạnh”  tràn từ mặt trận về tận các phiên họp bất thường của Nhà Trắng. Ở đó, Truman nghĩ đến biện pháp tấn công Trung Quốc bằng bom nguyên tử để sớm kết thúc chiến tranh Triều Tiên “trong thế thắng”.

Truman chỉ thị cho không quân Mỹ triển khai các chuyến bay thực tập xuất phát từ đảo Okinawa (Nhật) hướng đến các mục tiêu ở Trung Quốc và Bắc Triều Tiên trong chiến dịch mang tên Hudson Harbor. Đội ngũ phi công, cùng chuyên viên kỹ thuật đảm trách “nhiệm vụ đặc biệt”, đã ứng dụng tại chỗ các thao tác lắp ráp, thực hành kiểm tra mục tiêu dưới đất theo cách thức dành cho những cuộc tấn công bằng bom nguyên tử.

Thông tin đó gây lo ngại cho các đồng minh của Mỹ nên Truman đã có cuộc gặp gỡ trao đổi trước tiên với các vị đứng đầu của hai chính phủ Anh và Pháp. Truman trấn an họ rằng, nếu phát động cuộc chiến tranh nguyên tử có thể lôi kéo Liên Xô vào cuộc, không loại trừ trường hợp Liên Xô sẽ quay ra tấn công Anh, Pháp và các nước Tây Âu để “giải vây” Trung Quốc, nên Truman đang hết sức tự kiềm chế và cân nhắc trước khi “ra một mệnh lệnh tối quan trọng” như thế. Còn Mao Trạch Đông?

Theo các nhà quan sát thời sự quốc tế: Mao Trạch Đông lúc ấy dường như bất kể đến đe dọa của phía Mỹ về một cuộc chiến tranh nguyên tử, nên vẫn tiếp tục tăng cường tập đoàn quân của mình vượt sang biên giới Trung – Triều. Có lẽ Mao tin vào Stalin – chỗ dựa vững chắc của Mao. Về phía Mỹ, Truman cũng phải e dè trước Stalin. Vì sao?

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là nước duy nhất chế tạo được bom nguyên tử, với vụ nổ thử đầu tiên thành công vào 16.7.1945 tại bãi đánh bom ở Alamogordo (bang New Mexico). Khi ấy, J. Robert Oppenheimer – giám đốc khoa học của dự án nguyên tử Manhattan thốt lên cay đắng: “Tôi đã trở thành sứ giả của tử thần – kẻ góp tay hủy diệt thế giới”. Ngược lại, Truman hài lòng, vì sự kiện đó đưa nước Mỹ lên vị trí độc quyền “múa gươm hạt nhân”, công khai bao vây Liên Xô “bằng một vành đai các căn cứ không quân chiến lược tiền tiêu với những máy bay đã mang sẵn vũ khí hạt nhân có thể tiến công Liên Xô chỉ một lúc sau khi được báo động. Trừ Alaska, còn tất cả các căn cứ đó đều nằm ngoài lãnh thổ Mỹ” (Amter – Lời phán quyết về Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội 1985, tr. 19). Tình báo khoa học của Mỹ báo cáo:

Ước tính, sớm nhất phải từ năm 1950 – 1953 trở đi, Liên Xô mới chế tạo được bom nguyên tử. Nhưng quả bom nguyên tử đầu tiên của Liên Xô làm từ plutonium thử nghiệm thành công tại Semipalatinsk (Kazakhstan) vào 29.8.1949 – gần một năm trước ngày chiến tranh Triều Tiên nổ ra, giúp Stalin loại Truman khỏi vị trí “độc quyền”. Mao Trạch Đông, luôn kính trọng Stalin, ngay cả khi Stalin qua đời và Mao Trạch Đông kịch liệt chống lại các nhà lãnh đạo Liên Xô kế đó, nhưng vẫn treo ảnh Stalin ở Thiên An Môn. Nguyên thủ tướng Anh: Edward Health trong lần đến hội kiến với Mao Trạch Đông ở Trung Nam Hải (năm 1972), hỏi:

– “Tôi đến quảng trường Thiên An Môn, nhìn thấy ảnh của Stalin treo ở gần ảnh Karl Marx, Engels, Lenin, cảm thấy rất kỳ lạ. Ảnh của ba vị kia tôi có thể lý giải được, nhưng sao lại treo ảnh Stalin ở đây?”

Mao Trạch Đông trả lời: “Stalin là người cuối cùng của Liên Xô theo chủ nghĩa Marx chân chính, ảnh của Stalin treo ở đó chính là vì Stalin là một người Marxist” (Trần Trường Giang, sđd ở Kỳ 8, tr. 320). Stalin có đủ “quyền lực hạt nhân” để phản ứng đúng mức nếu Truman đánh bom nguyên tử Trung Quốc. Theo kế hoạch, dự kiến ban đầu của Mỹ về mục tiêu là các lực lượng bộ binh của liên quân Trung – Triều ở các điểm tập kết đông đúc. Song qua thực tập, cho thấy hiệu quả của “chiến thuật nguyên tử” trên rất hạn chế, bởi liên quân Trung – Triều di chuyển thường xuyên. Truman quay sang mục tiêu khác. Tướng Mc Arthur đề xuất: thả ít nhất 30 quả bom nguyên tử xuống nội địa và vùng biển Trung Quốc. Theo MacArthur – mục đích không chỉ giải quyết chiến trường Triều Tiên, mà nhằm tạo vành đai bức xạ hạt nhân với thời gian tồn đọng trong môi trường Trung Quốc hơn nửa thế kỷ, đủ sức ngăn chặn “nguy cơ Tàu đỏ” tràn xuống phương Nam…

Kỳ 58: Stalin với điệp viên huyền thoại George Koval

Trung Quốc thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên của mình vào năm 1964 – sau người Mỹ 19 năm (1945 – 1964) và sau Liên Xô 15 năm (1949 – 1964).


George Koval – điệp viên Nga sinh tại Mỹ, lớn lên tại Mỹ và nói thuần tiếng Mỹ
đã giúp Liên Xô đấy nhanh tiến trình sản xuất vũ khí hạt nhân

Tài liệu “Thế giới thế kỷ XX – những sự kiện quân sự” của Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (do Trịnh Vương Hồng, Lê Đình Sỹ và Nguyễn Viết Bình chủ biên), NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội – 2003, ghi: “ngày 16.10.1964, Trung Quốc tuyên bố thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên tại Sin-ki-ang, một tỉnh miền Tây Trung Quốc giáp với Liên Xô. Mặc dù Trung Quốc không tiết lộ bất kỳ một thông số kỹ thuật nào, song các chuyên gia nguyên tử cho biết sau vụ thử này Trung Quốc đã trở thành một cường quốc hạt nhân và chỉ đứng sau Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp” (tr. 251). Gần ba năm sau “ngày 17.6.1967, Trung Quốc tiến hành thử bom H lần đầu tiên” (tr. 261).

Trước đó hơn 10 năm, lúc chiến tranh Triều Tiên ngày càng nổ lớn, những lo ngại của thế giới về xung đột vũ khí nguyên tử giữa Mỹ và Liên Xô càng tăng lên. Khi ấy, Trung Quốc và Triều Tiên chưa sở hữu bom nguyên tử nên Mao Trạch Đông – Kim Nhật Thành (và các nhà lãnh đạo một số nước Đông Âu) có phần yên tâm hơn nhờ “cái ô hạt nhân” của Stalin. Việc Stalin có trong tay bom nguyên tử là phương tiện hữu hiệu “chế ngự” tổng thống Truman. Để có được sức mạnh đó, Stalin nhờ thành quả của các điệp viên Liên Xô xâm nhập vào dự án nguyên tử Mỹ, trong đó George Koval được xem là “điệp viên huyền thoại”.

George Koval sinh trưởng trong một gia đình thuần Nga. Cha mẹ Koval di cư sang Mỹ, sinh sống tại thành phố Sioux, bang Iowa, từ năm 1910. Ba năm sau, Koval ra đời tại thành phố đó vào lễ Giáng sinh 25.12.1913.

Lên 19 tuổi (1932) Koval theo gia đình rời Mỹ, hồi hương về lại Nga. Đến 21 tuổi (1934) thi đậu vào Trường Đại học kỹ thuật hóa học Matxcơva – 26 tuổi, tốt nghiệp hạng xuất sắc với luận văn về các loại khí hiếm, trở thành kỹ sư trẻ đầy triển vọng. Lúc phát xít Đức đe dọa tấn công Liên Xô, Koval tình nguyện tham gia Hồng quân và được điều về công tác tại Tổng cục tình báo quân sự GRU – đánh dấu bước ngoặt lớn trong đời.

“Ống kính GRU” soi vào lý lịch “thuần Nga” của Koval, với xuất thân từ chuyên ngành hóa học và một vỏ bọc khá lý tưởng: sinh tại Mỹ, lớn lên tại Mỹ, học trung học tại Mỹ, nói tiếng Anh “theo giọng Mỹ”, quen “lối sống Mỹ”… nên đã hội đủ các điều kiện nền tảng để “hoạt động tình báo hạt nhân” trên đất Mỹ.

Sau khóa huấn luyện đặc biệt của GRU, Koval được tung trở lại nước Mỹ với mật danh “DELMA” và gia nhập quân đội Mỹ với cái “tên sơ sinh” là George đầy đủ giấy chứng nhận hợp lệ đã học ở các trường trung học kỹ thuật của Mỹ trước chiến tranh. Xét ngành học, với độ tuổi (30 tuổi – 1943) và một số yếu tố khác (kèm theo “lá số” may mắn của Koval) nên Bộ Tư lệnh quân đội Mỹ đã chọn Koval cùng 38 quân nhân khác rời khỏi đơn vị về thành phố New York dự khóa học về sản xuất vật liệu hạt nhân.

Mãn khóa, Koval được chuyển đến làm việc tại cơ sở tuyệt mật của dự án nguyên tử Mỹ ở Oak Ridge thuộc bang Tennessee – nơi có những lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động dưới sự giám sát của hệ thống nhân sự do cơ quan FBI và Cục phản gián quân đội Mỹ giăng ra. Koval lọt qua hàng rào kiểm tra chặt chẽ của tướng Leslie Groves – người chịu trách nhiệm an ninh của dự án – để thu thập nhiều thông tin quý giá.

Hàng ngày, cũng như tất cả nhân viên khác, Koval phải chịu giám sát nghiêm ngặt trong mọi lúc. Thư từ bị kiểm duyệt, điện thoại giao dịch với người bên ngoài được ghi âm. Vượt qua tất cả, Koval đã “liên kết” thành chuỗi các công đoạn của quá trình sản xuất bom nguyên tử: “Chính Delmar (Koval) năm 1945 đã thông báo về việc người Mỹ sản xuất polonnium đồng thời sử dụng chúng trong các dự án hạt nhân. Một trong những báo cáo đó viết: “Polonium chế tạo nên đã được gởi tới bang New Mexico, nơi đó được sử dụng cho bom hạt nhân. Polonium được làm từ bitmut.

Ngày 1.11.1945, số lượng sản xuất của nhà máy là 300 curi polonium/tháng, và hiện giờ đã lên tới 500 curi. Không ở đâu có thông báo gì về việc sản xuất polonium và việc sử dụng nó cả. Bảng mô tả quá trình sản xuất polonium sẽ được gửi ngay sau đây” (…)

Đóng góp quan trọng của Koval được đánh giá là: “tình báo viên đầu tiên mách nước cho các nhà hóa học và các nhà thiết kế Xô Viết về việc nguyên tố polonium được dùng làm gì trong các quả bom hạt nhân Mỹ. Nhờ đó, Liên Xô đã đẩy nhanh tiến trình chế tạo của mình để công bố việc sở hữu bom hạt nhân năm 1949, mà theo nhiều nhà bình luận, đã giúp “cân bằng” tương quan lực lượng Xô- Mỹ thời kỳ đó”. (Hồ sơ những điệp viên siêu hạng của tình báo Việt Nam và thế giới – nhiều tác giả, NXB Hồng Đức, quý II-2014, tr. 115).

Koval “được phép lui tới các địa điểm tuyệt mật” thiết lập trá hình trong khuôn viên các trường đại học tại Chicago, Columbia, cả các nhà máy làm giàu uranium ở Hanford thuộc bang Washington… Hầu hết những “điểm chết” ấy đều bị Koval xâm nhập –  Koval là “một trong rất ít chuyên viên” có điều kiện trực tiếp xem xét tận mắt toàn bộ dây chuyền của chương trình – theo FBI.

Sau gần một năm ở Oak Ridge, Koval nhận lệnh thuyên chuyển công tác đến phòng thí nghiệm tuyệt mật khác, nằm ở Dayton (Ohio) vào ngày 27.6.1945 – cách thời điểm Truman cho nổ thử quả bom nguyên tử đầu tiên của nước Mỹ chưa đầy 20 ngày (16.7.1945). Sau vụ nổ trên, Koval khám phá thông tin quý báu liên quan đến việc cài đặt “thiết bị khởi động” cho một quả bom phát nổ.

Kỳ 59: Mỹ từng dự tính ném 300 quả bom nguyên tử xuống Liên Xô

Mao Trạch Đông – Kim Nhật Thành đứng trước đề xuất nguy hiểm của tướng Mc Arthur ném 30 quả bom nguyên tử xuống Bắc Triều Tiên và nội địa Trung Quốc, nhưng không ngờ – số lượng đó được nhân lên gấp 10 lần để ném xuống Liên Xô!


Mỹ đã lên kế hoạch ném bom nguyên tử xuống Liên Xô, trong đó,
các thành phố Moscow và Leningrad dự tính sẽ bị ném 8 quả

Stalin giăng tiếp mạng lưới “tình báo nguyên tử” đến Mỹ và phát hiện thêm những “sự thật khủng khiếp” về kế hoạch chuẩn bị cho chiến tranh thế giới lần thứ III với phương án tấn công Liên Xô của Truman. Cần tiếp nối với điệp vụ siêu hạng của George Koval trước khi tiếp tục, như sau:

Tổng cục tình báo quân đội Liên Xô (GRU) chấm một “điểm son” khen ngợi lên giai đoạn mở đầu “hành trình trên đất Mỹ” của điệp viên Koval tại khu vực mang bí số X10…

X10 là một trong các địa điểm bí mật của dự án sản xuất vũ khí hạt nhân Mỹ nằm ở Oak Ridge – thành phố của các nhà máy công nghiệp quân sự Mỹ và của các lò phản ứng nguyên tử – nơi Koval được chỉ định đến làm việc trong giai đoạn đầu của điệp vụ (xem Kỳ 58). Oak Ridge quy tụ hàng vạn nhà khoa học và các chuyên gia hàng đầu của Mỹ về lĩnh vực nghiên cứu và thực hành quy trình sản xuất bom nguyên tử.

Tuy số nhân viên X10 chỉ khoảng 1.500 người, ít hơn nhiều so với các khu vực K.25 hoặc U.12, nhưng “chính ở đó lại đảm đương một khâu vô cùng quan trọng là sản xuất plutonium. Toàn bộ uranium và plutonium “đã làm giàu” được chuyên chở bằng máy bay quân sự đến Los Alamos. Dựa trên cơ sở những báo cáo rất tỉ mỉ của Delmar (Koval), các nhà khoa học Xô Viết đã đẩy nhanh tốc độ sản xuất uranium và plutonium “đã được làm giàu” – thứ vật liệu quan trọng nhất để chế tạo bom nguyên tử”. GRU ghi nhận thêm: “Kết quả vô cùng quan trọng trong hoạt động tình báo của Delmar ở Mỹ là đã phát hiện rõ một số cơ sở nguyên tử tuyệt mật của Mỹ, cơ cấu của chúng, khối lượng sản xuất vật liệu hạt nhân, số lượng các chuyên gia làm việc ở những cơ sở, mối quan hệ với các cơ sở khác trong dự án” (Hồ sơ những điệp viên siêu hạng… – sđd ở Kỳ 58, tr. 112).

Khi Koval đang ở Oak Ridge, thì cùng lúc, một điệp viên khác của Liên Xô Klaus Fuchs ở Los Alamos, cũng đã gửi cho phía Liên Xô các chi tiết liên quan về mặt thiết kế quả bom, nhưng“quan trọng hơn, Koval biết rằng chất polonium của Oak Ridge “đóng một vai trò trong sự phát triển của quả bom” – thông tin đã giúp Liên Xô kết nối các dấu chấm giữa Oak Ridge và Los Alamos” (sđd tr.118).

Sau X10, điệp viên Koval nắm được những điều thiết yếu liên quan đến “thiết bị khởi động bom nguyên tử dựa trên polonium”. Các chuyên viên phân tích dữ liệu khoa học trực thuộc GRU đánh giá rất cao những tài liệu của Koval chỉ rõ công đoạn cài đặt “thiết bị khởi động”. Vì, đó là một khâu không thể thiếu trong “phần cuối”  của chuỗi chương trình (chế tạo bom) và “phần đầu” của giai đoạn kích hoạt (cho nổ).

Các thu thập của Koval có giá trị thực tiễn nhờ vào vị trí công việc do phía Mỹ giao: “đo đạc mức độ bức xạ” tại các cơ sở thí nghiệm và “theo dõi sức khỏe của nhân viên” đang làm việc cho dự án. Tận dụng vị trí thuận lợi đó, Koval xâm nhập vào tận các nơi trọng yếu nhất của chương trình và truyền tin tức tình báo nguyên tử qua đường mật mã, cùng các túi thư ngoại giao của đại sứ quán Liên Xô.

Hoàn thành điệp vụ, Koval về lại Liên Xô an toàn vào đầu năm 1949. Koval “biến mất”  khỏi New York – Cục điều tra liên bang FBI và Cục phản gián quân đội J2 của Mỹ đánh dấu hỏi, lần về tận nơi sinh của Koval ở thành phố Sioux (bang Iowa) để dò tìm đầu mối. Song tất cả là “việc đã rồi”. Liên Xô đã nắm được bí mật để mở những “thắt nút” trong chuỗi dài của quy trình sản xuất bom nguyên tử.

Về nước, Koval phải chịu thất nghiệp vì “lý lịch không rõ ràng”. Tổ chức những nơi xin việc nghi ngờ: “Tại sao hồ sơ quân ngũ của Koval trong 10 năm (1939-1949) không có một tờ giấy khen, một tấm huân chương? Xuất ngũ với hạng thấp nhất” ! Koval không thể trả lời đúng sự thật, vì ông phải tuân thủ nguyên tắc “bảo vệ bí mật nhà nước” và “không được quyền” nói đến những năm hoạt động tình báo của mình ở Mỹ cho lợi ích an ninh của đất nước Liên Xô. Đến 1953, Tổng cục tình báo GRU can thiệp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục Liên Xô để Học viện Mendeleev mở cửa đón ông.

Ông giảng dạy ở đó cho đến ngày về hưu và qua đời năm 2006, ở tuổi 94. Tháng 11 năm ấy, tổng thống Nga Putin công bố sự thật về ông (sau 60 năm không ai nhắc đến) để truy tặng Huân chương Sao vàng, huân chương cao quý nhất của nước Nga. Lúc ấy công chúng Nga và thế giới mới ngạc nhiên trước công lao thầm lặng của ông – một “người Nga đã cầm trên tay những mẫu plutonium đầu tiên do nước Mỹ sản xuất” và là “điệp viên duy nhất xâm nhập vào hầu hết cơ sở hạt nhân quan trọng của dự án nguyên tử Manhattan”. Tờ New York Times đánh giá :“Koval là một trong những nhà tình báo quan trọng nhất của thế kỷ 20”.

Sau 1949, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa Liên Xô và Mỹ bắt đầu. Nhưng hoạt động của các “điệp viên nguyên tử” của Liên Xô không kết thúc. Và Villam Fisher (bí danh Mark) có mặt ở Mỹ trong 14 năm đã thông tin về dự tính của Mỹ trong việc “chuẩn bị chiến tranh thế giới lần thứ III và phác thảo kế hoạch ném 300 quả bom nguyên tử xuống lãnh thổ Liên Xô, trong đó Moscow và Liningrad mỗi thành phố sẽ bị ném 8 quả” (sđd tr. 128). Không may, bị phát hiện, Fisher bị bắt bởi Cục điều tra liên bang Mỹ FBI. Fisher trước sau vẫn phủ nhận mình “không phải là Fisher”, mà là: Rudolf Abel  – tên của một điệp viên đã chết.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s