Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 40

Kỳ 40: Hoàng Sa và những nhân chứng lên tiếng từ nước Pháp.
Kỳ 41: Hoàng Sa trên diễn đàn quốc tế San Francisco
Kỳ 42: Chủ tịch Hồ Chí Minh với Diệp Kiếm Anh và Chu Ân Lai

Kỳ 40: Hoàng Sa và những nhân chứng lên tiếng từ nước Pháp

Giao Hưởng – Đăng Bởi Một Thế Giới – 12-08-2014

Sau ngày Mao Trạch Đông đưa quân ngang nhiên chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa đã có nhiều nhân chứng và trí thức ở Pháp lên tiếng khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam như GS Charles Rousseau – giảng dạy Luật quốc tế tại ĐH Luật Paris; trung tướng không quân Jean Dechaux; và người dựng bia chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa năm 1938: André Faucheux…


Trạm chuyển phát tín hiện radio tại quần đảo Hoàng Sa, Việt Nam năm 1930

André Faucheux làm việc tại Việt Nam suốt 22 năm (1924-1946), là quan Chánh Lục lộ (Trưởng ty Công chánh) của tỉnh Quảng Nam và thị xã Tourane (Đà Nẵng) đã cùng một phái bộ của chính quyền bảo hộ Pháp đến “trồng bia chủ quyền của triều đình Huế” tại quần đảo Hoàng Sa năm 1938, kể:

“Khi chúng tôi đến quần đảo này (…) thấy có một tượng Phật Quan Âm bằng đá cao lối 4 tấc, sau đó chúng tôi được biết tượng Phật Quan Âm này do các ngư phủ Việt Nam thường đến quần đảo để săn rùa dựng lên”.

Và Faucheux quả quyết: “Chúng tôi không hề thấy một người Tàu nào trên quần đảo cả. Vả lại, sau khi trồng bia chủ quyền xong, tôi cũng không hề nghe có chính phủ Trung Hoa hoặc bất cứ chính phủ nào khác phản đối. Như thế tôi nghĩ Hoàng Sa phải là một phần đất của Việt Nam” (tài liệu VNCH đã dẫn, tr. 78).

Vài tháng sau, ông Faucheux lại đến Hoàng Sa lần thứ hai để xây cất doanh trại cho một đơn vị vệ binh triều đình Huế trú đóng. Lần đó, ông cũng xác nhận “không thấy một người Tàu nào trên đảo cả”. Faucheux khẳng định như thế khi trả lời phỏng vấn do Trung tâm Thông tin Paris thuộc hệ thống thông tin quốc ngoại của VNCH thực hiện ngày 5.3.1974, lúc ấy ông 75 tuổi.

Một nhân chứng khác: trung tướng Jean Dechaux, 70 tuổi. Vào tháng 10.1937, ông mang cấp bậc đại úy chỉ huy trưởng một tiểu phi đội (escadrille) thủy phi cơ đóng gần Sài Gòn, đã  theo lệnh của Toàn quyền Đông Dương “lái một thủy phi cơ thực hiện phi vụ nhiếp ảnh các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa”.

Ông phát biểu: trong suốt thời gian ông phục vụ tại Việt Nam (từ 1935-1939) và trong năm 1945 khi ông có dịp trở lại Việt Nam không hề nghe nói Trung Hoa lên tiếng phản đối hoặc đòi hỏi chi cả: “Lúc ấy không ai nghĩ rằng Trung Hoa có thể phản đối vì rõ ràng Hoàng Sa thuộc chủ quyền của triều đình Huế. Theo chỗ tôi biết thì ít ra từ hơn một trăm năm qua quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của triều đình Huế đặt dưới sự bảo hộ Pháp và kế đó là đương nhiên thuộc quyền của Việt Nam” (tlđd, tr.81).

Pontoizeau là nhà nghiên cứu và nhà kinh doanh đến Việt Nam sinh sống trong 8 năm (từ 1945-1953) đã nghiên cứu tỉ mỉ về tài nguyên thiên nhiên của quần đảo Hoàng Sa. Ông cho biết: khi công việc kết thúc, ông rời Việt Nam đi Paris năm 1952 để chính thức gởi đơn đến Nha Hầm Mỏ (thuộc Bộ Kinh tế của chính phủ Pháp) xin phép khai thác ruộng muối, ngư sản và phosphat phân chim (guano) tại Hoàng Sa.

Vì Hoàng Sa, cạnh hải sản dồi dào, còn có nhiều loại hải điểu “như chim yến, nhạn, vịt, hải âu… đã cho một nguồn lợi rất  lớn về trứng chim và nhất là về phân chim – phân chim của hàng triệu con, tích tụ ngày một nhiều, tác dụng với san hô cho một loại phosphat rất có giá trị – đó là nguồn lợi chính yếu của quần đảo.

Theo tài liệu của Tổng nha Khoáng chất và Công Kỹ nghệ thì số phosphat trên quần đảo như sau: Hoàng Sa: 562.000 – 960.000 tấn; Cam Tuyền: 675.000 – 1.440.000 tấn; Vĩnh Lạc: 787.000 – 1.200.000 tấn; Duy Mộng: 687.000 tấn. Số lượng phosphat tổng cộng có thể khai thác được trên toàn thể quần đảo mỗi năm là 12 triệu tấn (…)

Hãng phân bón Việt Nam thành lập tại Sài Gòn với sự hợp tác của hãng Shinwat hoạt động từ tháng 4.1959 đã khai thác được 20.000 tấn rồi bỏ dở vì thời tiết và vận chuyển khó khăn” (tlđd tr. 13). Ông Pontoizeau cũng đã nhờ “một kỹ sư canh nông nghiên cứu việc trồng rau cải không cần đất (culture sans sol) để ông sẽ thực hiện tại Hoàng Sa, hầu cung cấp thực phẩm tươi cho công nhân làm việc tại đó”. Nhưng rất tiếc diễn biến thời  sự và chiến cuộc vào đầu năm 1953 làm ông phải hủy bỏ kế hoạch nói trên.

Trả lời phỏng vấn ngày 6.3.1974 của Trung tâm Thông tin Paris, ông nói: “Qua công cuộc nghiên cứu của tôi, tôi quả quyết rằng về mọi phương diện lịch sử, địa lý và pháp lý, quần đảo Hoàng Sa phải là một phần đất của Việt Nam (…). Trung Cộng chiếm Hoàng Sa không khác nào họ xâm chiếm đảo Corse của chúng tôi” (tlđd tr.79).

Charles Rousseau – thành viên của Tòa án trọng tài quốc tế tại La Haye và là giám đốc Viện khảo cứu các vấn đề quốc tế tại Paris, đã nghiên cứu tường tận về lịch sử và khía cạnh pháp lý của quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa) và viết bài đăng trên tạp chí Revue General de Droit International (số 3, Paris 7.1972) đưa ra luận cứ về kế cận địa dư:

“Trung Cộng cũng có thể đưa ra luận cứ này trong vụ Hoàng Sa, nhưng yếu tố kế cận địa dư chỉ có giá trị với điều kiện đi đôi với yếu tố chiếm hữu thật sự mà chỉ có Việt Nam (Cộng hòa) là hội đủ hai yếu tố đó” (tlđd tr.80).

Mao Trạch Đông bất chấp pháp lý lẫn đạo lý để cất quân đánh chiếm Hoàng Sa bởi nhiều nguyên do, trong đó có vị trí đặc biệt về quân sự của quần đảo này trong khu vực – tài liệu VNCH có đoạn:

“Từ năm 1939-1945, Nhật đã dùng làm căn cứ tàu ngầm và tàu phóng ngư lôi. Sau khi Nhật bại trận và rút quân ra khỏi toàn thể Đông Dương vào tháng 8.1945, vì nhận thấy rõ vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa nên Pháp đã gởi tàu Savorgnan de Brazza đến tái chiếm quần đảo vào tháng 5.1946.

Trước đó, khi được giữ vai trò giải giới quân đội Nhật, Trung Hoa (Trung Hoa dân quốc thời Tưởng Giới Thạch – GH) đã mưu toan chiếm các quần đảo Hoàng Sa. Nhận được tin này, chính phủ Pháp tức tốc gửi tàu Le Tonkinois đến tái chiếm quần đảo Hoàng Sa và đụng độ với quân Trung Hoa ở đảo Phú Lâm.

Vào năm 1956, Trung Cộng (CHND Trung Hoa thời Mao Trạch Đông – GH) đem quân chiếm đảo Phú Lâm và Lincoln thuộc quần đảo Hoàng Sa bằng cách cho quân lính giả dạng ngư phủ đổ bộ lên đảo xây cất cơ sở, thiết lập cầu tàu, doanh trại.

Quần đảo Hoàng Sa nằm ngay trên hải đạo Sài Gòn – Hương Cảng, Hải Phòng – Manila nên kiểm soát được tất cả mọi sự lưu thông trên biển Đông (…) hơn nữa các đảo này có thể dùng làm căn cứ cho tàu ngầm, tiểu đỉnh, đặt các dàn hỏa tiễn, đặt rada…

Tóm lại (…) quần đảo Hoàng Sa rất quan trọng về phương diện chiến lược cho các quốc gia quanh vùng biển (…) đặc biệt là Việt Nam” (tlđd tr.15) .

Ảnh tài liệu và chú thích của Việt Nam Cộng hòa:

Bia chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa

Bia chủ quyền trên đảo Hoàng Sa do người Pháp trồng năm 1938 (xem nhân chứng André Faucheux trong bài). Hàng chữ ghi trên bia: République Francaise, Empire d’Annam, Archipel des Paracels, 1816 -1938 (1816 là năm vua Gia Long lên đảo cắm cờ chủ quyền và năm 1938 là năm bia được trồng). Bối cảnh trong hình là ngọn hải đăng.

Ba người đàn bà Việt Nam ở Hoàng Sa


Ba người đàn bà Việt Nam trên đảo Pattle (Hoàng Sa),hình chụp trước năm 1940
(Xuất xứ: Album của Colonel Pierre Bodin, Tuần báo Le Point số 36 ra ngày 4.3.1974)

Kỳ 41: Hoàng Sa trên diễn đàn quốc tế San Francisco

Mao Trạch Đông chỉ thị để đại sứ Trung Quốc tại Liên hiệp quốc Hoàng Hoa tìm cách biện minh trí trá về “chủ quyền Trung Quốc ở Hoàng Sa” (năm 1974), song dư luận thế giới từ lâu đã ghi nhận tiếng nói khẳng định “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam” trên diễn đàn Hội nghị quốc tế San Francisco (năm 1951)!


Nhân sĩ trí thức Sài Gòn xuống đường thề bảo vệ quê hương,
chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa tháng 2.1974.

Hội nghị San Francisco bàn đến việc “nước Nhật khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với tất cả các lãnh thổ mà họ chiếm bằng vũ lực trong đệ nhị thế chiến (1939 – 1945), trong đó có các đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Tại diễn đàn trên, ngày 7.9.1951: “Thủ tướng Trần Văn Hữu kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng (trong chính phủ Quốc gia do cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng – GH) và là trưởng phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị San Francisco long trọng tuyên bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này, trước sự hiện diện của 51 quốc gia, mà không có quốc gia nào minh thị phản đối, kể cả Trung Hoa” (tài liệu VNCH đã dẫn tr.51).

Gần đây, toàn văn tuyên bố chính thức trên in lại trong cuốn Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam (sau đây viết tắt: “Bằng chứng lịch sử”, nhiều tác giả, NXB Trẻ – TP. HCM, tái bản lần thứ tư, quý IV – 2013, 360 trang) dài hơn 4 trang, có đoạn: “Chúng tôi tới đây để yêu cầu được chữ ký của 51 quốc gia hội viên của hội nghị này mà tái lập lại một đời sống quốc gia xứng đáng và tự hào” (tr.105). Nhân đó “cũng vì cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” (tr.107).

Nguyên văn chữ Pháp đoạn văn quan trọng trên như sau: “Et comme il faut franchement profiler de toutes occasions pour élouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les iles Spratly et Paracel qui de tout temps ont fait partie du Viet Nam”. Cf “Conférence de San Francisco”, France – Asie, p 66-67 (Novembre – Decembre 1951), p 505.

Bản dịch tiếng Anh trong tài liệu VNCH: “…As we must frankly profit from all the opportunities offered to us to stifle the germs of discord, we affirm our right to the Spratly and Paracel Islands, which have always belonged to Vietnam” (tr.51)

Ngày 16.3.1974 (chưa đầy hai tháng sau ngày Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa), Trung tâm thông tin Paris của VNCH đến tư thất của cựu thủ tướng Trần Văn Hữu ở Pháp phỏng vấn. Cựu thủ tướng xác nhận:

– “Chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa đã được công khai tuyên bố nơi Hội nghị hòa bình với Nhật năm 1951 vào tháng chín dương lịch tại San Francisco. Lúc ấy là lần đầu tiên mà Việt Nam vào hàng 50 cường quốc có quyền định đoạt vấn đề quốc tế (…). Với tánh cách Chủ tịch phái đoàn đại diện cho toàn cõi Việt Nam, trong một bài diễn văn đọc ngày bế mạc hội nghị, tôi long trọng tuyên bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên cả quần đảo Hoàng Sa. 50 phái đoàn cường quốc im lặng nghe lời tuyên bố của phái đoàn Việt Nam (…) hoàn toàn công nhận, không gặp một quốc gia nào phản đối”.

Được hỏi CHND Trung Hoa không có mặt tại Hội nghị San Francisco 1951, vậy tuyên bố đó có “giá trị đối kháng” với họ hay không? Cựu thủ tướng Trần Văn Hữu trả lời: vẫn có giá trị – vì lẽ:

– “Nếu đứng về phương diện “tạo ra chủ quyền mới” thì lời tuyên bố đó có thể chỉ đối kháng với những Chính phủ hiện diện mà thôi. Nhưng đứng về phương diện “xác nhận chủ quyền đã có (effet déclaratif)” thì lời tuyên bố đó có hiệu lực đối kháng với tất cả mọi người (effet “erga omnis”) kể cả người vắng mặt. Vì đó chỉ là xác định lại, nhắc lại quyền lợi cũ mà thôi. Vì vậy, tuyên bố của VNCH tại San Francisco vẫn có hiệu lực đối với Trung Cộng” (tài liệu VNCH, tr.51-52).

Cuốn “Bằng chứng lịch sử” dẫn trên cũng ghi: “vào năm 1951 tại Hội nghị San Francisco có một đề nghị bổ sung bản dự thảo hòa ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng hội nghị đã bác bỏ đề nghị này với số phiếu áp đảo là 46 phiếu, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng. Tại hội nghị, Trưởng đoàn quốc gia Việt Nam đã tuyên bố khẳng định chủ quyền lâu đời của nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản đối hay bảo lưu của nước nào. Năm 1956, Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho chính quyền Sài Gòn, và nhà cầm quyền Sài Gòn đã cho quân ra tiếp quản, tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính (lập ở mỗi quần đảo một xã thuộc một huyện ở đất liền), xây các bia chủ quyền, duy trì các trạm khí tượng” (Hải Biên – Vấn đề biển Đông dưới ánh sáng pháp luật quốc tế, sđd tr.287). “Sự kiện San Francisco” còn được nhắc đến ở các trang 278, 336 đến 338 của cuốn “Bằng chứng lịch sử”.

Ngày 26.1.1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố về vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ – đến ngày 14.2.1974, lại tuyên bố khẳng định: quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. Ngày 11.11.1975, Bộ  Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Trung Quốc “khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Tháng 3.1979, Bộ Ngoại giao CHXHCN VN công bố Bị vong lục về vấn đề biên giới Việt – Trung, trong đó tố cáo Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam ngày 19 và 20.1.1974. Sang tháng sau (4.1979), hải quân Việt Nam đụng độ với tàu chiến Trung Quốc trên vùng biển Đông.

Kỳ 42: Chủ tịch Hồ Chí Minh với Diệp Kiếm Anh và Chu Ân Lai

Đêm trước cuộc hải chiến 19.1.1974, Mao Trạch Đông ủy nhiệm Chu Ân Lai chủ trì hội nghị phổ biến quyết định đánh Hoàng Sa và thành lập Ban lãnh đạo tác chiến khẩn cấp do nguyên soái Diệp Kiếm Anh đứng đầu.


Sinh viên Việt Nam tại Canada biểu tình trước tòa đại sứ Trung Cộng
ở Ottawa ngày 4.2.1974 để phản đối Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa.

Diệp Kiếm Anh là một trong 10 nguyên soái Trung Quốc được phong đợt đầu tiên năm 1955, lúc ông 58 tuổi. Ông gặp Hồ Chí Minh vào giai đoạn cả nước Trung Hoa sôi sục chống phát xít Nhật cuối thập niên 1930.

Đầu năm 1939, Diệp Kiếm Anh được Đảng CSTQ cử dẫn đầu một đoàn cán bộ quân sự đến Hồ Nam (quê hương Mao Trạch Đông) để huấn luyện chiến tranh du kích – lúc ấy Hồ Chí Minh (người của Quốc tế Cộng sản) đóng vai một sĩ quan cấp bậc thiếu tá tham gia đoàn của Diệp Kiếm Anh (với bí danh Hồ Quang) để giảng dạy hai khóa liền từ tháng 2 đến cuối tháng 9 năm đó.

Cuối đời, Diệp Kiếm Anh ngã bệnh (năm 1982, lúc 85 tuổi): “Trong thời gian chữa trị và điều dưỡng, ông thường kể cho các bác sĩ và y tá chuyện sau: Nhân kỷ niệm thành lập Quân đội Nhân dân VN, Diệp Kiếm Anh dẫn đầu đoàn đại biểu hữu nghị quân sự Trung Hoa sang thăm Việt Nam và đã tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ của nhân dân Việt Nam, một chiếc quạt Sương phi đời Minh của Trung Quốc”.

Trên mặt chiếc quạt, ngoài bức quốc họa do Hoàng Vị – một họa sĩ nổi tiếng của Trung Quốc vẽ, Diệp Kiếm Anh còn “làm một bài thơ với tựa đề: Tặng quạt Sương phi cho Hồ Chủ tịch” (La Nguyên Sinh, sđd ở Kỳ 4, tr.17).

Với Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu vợ ông, Hồ Chí Minh là người anh, người nhà của gia đình. Bà Đặng Dĩnh Siêu từng tự tay mình đan một chiếc áo len để Hồ Chí Minh mặc đến khi bạc màu. Viết về quan hệ thân thiết đó, Trần Quân Ngọc qua cuốn “Những người bạn quốc tế của Bác Hồ”, NXB TP. HCM quý II-2000, dẫn hồi ký của Tiêu Tam (Cao Đàm ghi), bài trên Nhân dân nhật báo (Trung Quốc) số 18.5.1982, cho biết:

Mùa hè năm 1922, Hồ Chí Minh đã gặp Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Lý Phú Xuân, Thái Hòa Sâm cùng một số thanh niên Trung Quốc khác tại Paris và giới thiệu Triệu Thế Viêm, Trần Diên Niên, Vương Nhược Phi, Tiêu Tam vào Đảng Cộng sản Pháp mùa thu năm ấy.

Vài năm sau, Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai lại hoạt động bên nhau tại Quảng Châu (1924-1927). Bấy giờ chính phủ Liên Xô cử Bôrôđin làm đại diện Quốc tế Cộng sản tại Trung Quốc (cố vấn cho Tôn Dật Tiên – người đứng đầu chính phủ Quảng Châu). Hồ Chí Minh (với bí danh Lý Thụy làm cố vấn riêng và phiên dịch cho Bôrôđin) phụ trách Cục Phương Nam thuộc Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, được giao đảm trách phong trào nông dân của Trung Quốc, Đông Dương, Miến Điện, Nam Dương. Còn Chu Ân Lai giữ chức Chủ tịch Khu ủy Quảng Đông – Quảng Tây Đảng CS Trung Quốc, làm Chủ nhiệm Ban chính trị Trường Quân sự Hoàng Phố, đã nhiều lần mời Hồ Chí Minh tới thăm và nói chuyện với học viên của trường.

Nhiều năm sau, hai người còn gặp ở “đất thánh cách mạng” Diên An (1938). Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (1969), Chu Ân Lai thay mặt Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc sang Hà Nội dự lễ tang, đọc điếu văn trước linh cữu: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ xuất sắc của thế giới thứ ba, của các dân tộc đói nghèo và khát khao nhân phẩm. Người đã dạy họ trước hết phải dựa vào sức mình là chính để tự giải phóng (…) cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta những hình ảnh phi thường”. Chu Ân Lai nhắc đến:

– “Công lao của Người đối với Tổ quốc chúng tôi cũng to lớn và vô cùng hiển hách”.

“Tổ quốc chúng tôi” chính là Trung Quốc – nơi Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình đã phát động và chỉ đạo cuộc chiến tranh xâm lược Hoàng Sa. Ban lãnh đạo tác chiến gồm 6 người: Diệp Kiếm Anh (Phó Chủ tịch Quân ủy trung ương – trưởng ban), Đặng Tiểu Bình, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Trần Tích Liên và Tô Chấn Hoa.

Chu Ân Lai giữ vai trò chủ đạo, vạch kế hoạch – hoàn chỉnh phương án tác chiến và báo cáo diễn biến trận đánh lên Mao. Cũng chính Chu và Diệp Kiếm Anh liên danh đề nghị Mao phê chuẩn lệnh “nổ súng”. Mao phê “đồng ý” – tức đồng ý dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa – theo Tân Hoa xã 5.8.2012 và Nhân dân nhật báo 9.8.2012.

Sau trận hải chiến 19.1, Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa nhưng vẫn chưa đưa ra được chứng cứ lịch sử về “chủ quyền đã có (effet déclaratif)” . Ngược lại, VNCH qua tài liệu gần 100 trang (3.1974) nhanh chóng chứng minh quyền sở hữu của Việt Nam bằng những phân tích sử liệu ghi trong: Phủ biên tạp lục, Hoàng Việt địa dư chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí, Quốc triều chánh biên toát yếu, và nhiều tài liệu khác của người Hòa Lan về thời các chúa Nguyễn, hoặc của Jean Baptiste Chaigneau và giám mục Taberd.

Đáng ghi nhận là tường trình ngày 16.2.1974 của một cựu quân nhân người Việt thuộc lực lượng không quân Pháp thời trước là ông Trần Văn Mạnh. Khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, ông Mạnh làm Trưởng ty khí tượng Tuy Hòa (Phú Yên) thuộc Bộ Giao thông Bưu điện của Chính phủ VNCH và gởi tường trình trên đến Văn phòng Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Tối cao Pháp viện và Tổng trưởng Bộ Ngoại giao ở Sài Gòn. Ông Mạnh từng sống khá lâu trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, nên thông tin của ông đầy những “chi tiết sống”,  giới thiệu bởi tài liệu VNCH (đã dẫn Kỳ 37):

“Phía Đông Bắc đảo Hoàng Sa có vài ngôi mộ của lính thú dưới đời vua Gia Long đã chết và an táng tại đó. Phía Đông có một am thờ gọi là đền Bà (…). Phía Bắc cách độ một cây số nằm dưới  mặt biển còn một pho tượng lớn bị gãy đầu (tượng đàn ông). Khi nước thủy triều xuống cạn thì pho tượng ấy được nhìn thấy rõ ràng. Còn tại đền thờ Bà thì có một pho tượng đá (đàn bà) đặt trên một bệ đá chạm trổ tinh vi từ xưa, có lần người Pháp muốn đem pho tượng này về Viện Bảo tàng Đà Nẵng nhưng oái oăm thay tượng tuy nhỏ mà 8 người lính Pháp vạm vỡ bưng lên không nổi để đem xuống tàu thủy và do sự tín ngưỡng lính Việt Nam yêu cầu để lại đền Bà cho đến ngày nay – 1974”


Cuộc mít tinh và biểu tình tuần hành tại quận Phú Mỹ ngày 11.2.1974
với 30.000 đồng bào tham dự, nhằm lên án Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa.

[:-/] Trung Quốc công bố Hồ Chí Minh là thiếu tá Hồ Quang (vietinfo.eu) – Báo Cương Sơn (冈山) loan tải hình Hồ Chí Minh tham gia đấu tranh chống xâm lược và chính là Thiếu tá Hồ Quang phục vụ trong Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc, tại quân khu Quảng Châu, Vũ Hán. (…)


Hồ Chí Minh có chữ x màu trắng và dấu chấm đỏ)….
Nguồn: Quân ủy Cương Sơn (CPC).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s