Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 37

Kỳ 37: Bùng nổ Hoàng Sa
Kỳ 38: Trận hải chiến Hoàng Sa 19.1
Kỳ 39: Hoàng Sa trước những “cái bắt tay tội lỗi” giữa Mao Trạch Đông và Nixon

Kỳ 37: Bùng nổ Hoàng Sa

Giao Hưởng – Đăng Bởi Một Thế Giới – 09-08-2014

Trước ngày đưa quân xâm chiếm Hoàng Sa của Việt Nam, Mao Trạch Đông đã triệu tập Tư lệnh và Chính ủy các đại quân khu về dự những cuộc họp quan trọng với nguyên soái Diệp Kiếm Anh, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình ngay tại thư phòng của mình ở Trung Nam Hải.


Tàu cá Trung Quốc cải trang, cản trở chiến hạm VNCH ở Hoàng Sa năm 1974

Ngày 20.12.1973, bầu trời “râm mát, từng đám mây lớn vần vũ trên không, che khuất ánh nắng mặt trời, khiến ta thấy lành lạnh”. Có cái gì bất thường phảng phất quanh căn phòng Mao đang họp.

Thường các cuộc tương tự nhóm “vào buổi chiều hoặc buổi tối tại Đại lễ đường”, lần này “tổ chức vào 9 giờ sáng” tại thư phòng của Mao là điều khá bất thường gây “cảm giác đặc biệt” cho vệ sĩ Trần Trường Giang – người luôn có mặt bên cạnh Mao Trạch Đông suốt 27 năm cho đến lúc Mao qua đời (sđd Kỳ 8, tr. 304-311) – Trần Trường Giang tường thuật tiếp (tóm lược):

“Theo thói quen, Mao ngồi trên chiếc ghế fauteuil đặt ở góc Tây Nam ngoảnh mặt ra cửa” để nhìn rõ từng đại biểu đang bước vào: hai nguyên soái Nhiếp Vinh Trăn và Từ Hướng Tiền, Tư lệnh quân khu Tế Nam: Dương Đắc Chí và các tư lệnh: Tăng Tư Ngọc, Lý Đức Sinh, Đinh Thịnh, Bì Định Quân, Hàn Tiên Sở… Ngồi bên phải Mao là nguyên soái Chu Đức. Còn phía bên trái “không phải là vị trí của Chu Ân Lai, cũng không phải là của Giang Thanh, mà là chỗ ngồi của Đặng Tiểu Bình mới được khôi phục công tác không bao lâu” (3.1973). Mao và Đặng “ghé sát vào nhau” cười nói thân mật như tuồng giữa họ chưa từng xảy ra chuyện Đặng bị Mao phê đấu, đưa đi “cải tạo lao động” gần bốn năm trời (1969-1972). Giữa cuộc họp, Mao công bố chấp nhận sáng kiến của Đặng “điều động chéo” tư lệnh của tám đại quân khu, trong đó:

* Trần Tích Liên (nguyên Tư lệnh quân khu Thẩm Dương) điều về làm Tư lệnh quân khu Bắc Kinh (thành viên Ban chuyên trách “phản ứng nhanh” cục diện Hoàng Sa)

* Hứa Thế Hữu (nguyên Tư lệnh quân khu Nam Kinh) điều về làm Tư lệnh quân khu Quảng Châu (nơi xuất phát các lực lượng Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa).

Sau cuộc họp trên hai ngày, lệnh điều động được Chu Ân Lai khởi thảo và ra quyết định vào 22.12.1973. Mao nói: “Tôi vẫn có thể đánh trận. Cần đánh thì đánh, thiên hạ đại loạn, trong đó có cả Trung Quốc. Tôi còn ăn được, ngủ được, nên nếu cần đánh, tôi rất sẵn sàng”.

Trước đó liên tục trong các ngày từ 12 đến 15.12, Mao chủ trì hội nghị Bộ Chính trị và mở các cuộc họp về tình hình quốc phòng và chấn chỉnh quân đội. Ở tuổi 81, Mao vẫn hiếu chiến, hô hào:

“Chuẩn bị ra trận, nội chiến, ngoại chiến đều xảy ra, tôi có thể đánh vài trận !” (Trần Trường Giang – sđd Kỳ 8, tr. 313). Và ở thời điểm đó (12.1973), “ngoại chiến” với ai nếu không phải là xua quân đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam (1.1974) ?

Để bạn đọc tiện theo dõi diễn tiến của “sự kiện Hoàng Sa 1974”, trước tiên chúng tôi tóm lược dưới đây tài liệu chính thức của chính phủ Việt Nam Cộng hòa (VNCH) in ronéo và phổ biến tháng 3.1974 tại Sài Gòn (tiếp đó là các tài liệu khác). Mở đầu:

Ngày 11.1.1974: Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố và lạm xưng chủ quyền nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của nước CHND Trung Hoa

Ngay hôm sau 12.1.1974: Từ Sài Gòn, chính phủ VNCH phát đi bản tin đặc biệt, nội dung:“Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao VNCH đã bác bỏ sự đòi hỏi chủ quyền vô căn cứ của Trung Cộng trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Và Bộ Tư lệnh Hải quân của Quân đội Sài Gòn đã chỉ thị cho tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ16 đến Hoàng Sa tuần phòng.

Ba ngày sau 15.1.1974: Trung Quốc đưa một chiếc tàu giả dạng làm thuyền đánh cá của ngư dân để“bất thần chở người đến đổ bộ lên đảo Cam Tuyền, cắm cờ và dựng lều trên đảo. Chiến hạm VNCH dùng quang hiệu đuổi họ rời khỏi đảo, nhưng vô hiệu. Địch quân cũng đổ bộ lên các đảo Vĩnh Lạc, Quang Hòa, Duy Mộng và tăng cường chiến hạm vào vùng quần đảo. Chiến hạm ta cũng đã dùng loa và đèn hiệu yêu cầu những người Trung Cộng rời khỏi đảo, nhưng cũng vô hiệu”.

Ngày 16.1.1974: Chính phủ VNCH ra tuyên bố với những dẫn chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử để xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đồng thời ra lệnh hải quân phải lấy lại các đảo đã bị Trung Quốc lấn chiếm trái phép.

Ngày 17.1.1974: Hồi 7g45, một tiểu đội xung kích của hải quân Sài Gòn đã “đổ bộ lên đảo Vĩnh Lạc không gặp sự kháng cự nào, chỉ tìm thấy trên đảo có 6 ngôi mộ mới, có bia viết chữ Tàu – Có lẽ đây là bằng chứng ngụy tạo của Trung Cộng nhằm chứng tỏ người Tàu đã chiếm giữ đảo này từ lâu. Toán xung kích đã được lệnh nhổ cờ Trung Cộng cắm trên đảo và phá hủy hết mọi dấu tích ngoại bang”.

Cùng ngày, Trung Quốc đưa 3 tàu vào neo cạnh đảo Cam Tuyền với các xuồng nhỏ ra vào nhằm liên lạc với một toán quân xâm chiếm khác đang có mặt trên bờ. Đáp lại, hai chiến hạm HQ16 và HQ4 của VNCH đã đưa một toán quân thuộc lực lượng đặc biệt của Bộ tư lệnh Hải quân Sài Gòn (biệt hải) đổ bộ lên đảo lúc 15g30, đẩy toán quân Trung Quốc cả người lẫn xuồng rút lui ra xa: “lục soát trên bờ tìm thấy một lá cờ Trung Cộng và một bảng gỗ thông sơn đỏ ghi chữ “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – lãnh thổ bất khả xâm phạm”. Những vật đó Trung Cộng mới đưa tới hai ngày trước. Còn những vết tích của Việt Nam trên đảo vẫn tồn tại gồm một bia ghi ngày 5.12.1963 của Thủy quân lục chiến, 2 bể đựng nước bằng xi măng và 1 ngôi miếu nhỏ đề ngày (tạo dựng) 24.11.1963”.

Ngày 18.1.1974: Phía Trung Quốc tăng cường thêm chiến hạm trang bị đại pháo 100 ly và 37 ly chạy tốc độ tối đa, yểm trợ tàu chuyển vận chở thêm quân tới, muốn đổ bộ “tái chiếm lại đảo Cam Tuyền”. Phía hải quân Sài Gòn cũng tung lực lượng đặc nhiệm để “tái chiếm lại  đảo Quang Hòa và Duy Mộng”. Chiến hạm của hai bên áp sát gần hơn và nằm trong tầm súng của nhau, chờ khai hỏa.

Kỳ 38: Trận hải chiến Hoàng Sa 19.1

Mao Trạch Đông với cương vị Chủ tịch đảng (chưa có Chủ tịch nước – sau Lưu Thiếu Kỳ), kiêm Chủ tịch Quân ủy trung ương là người có quyền hạn cao nhất và quyết định tối hậu trong việc đưa quân đội (cả hải quân lẫn không quân) đi tham chiến ở nước ngoài như trường hợp đánh lấn Hoàng Sa của Việt Nam đầu năm 1974…


Người Việt gốc Hoa ở Sài Gòn phản đối Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa

Để bạn đọc tham khảo và đối chiếu với các nguồn khác, chúng tôi trích tài liệu chính thức do phía Việt Nam Cộng hòa (VNCH) phổ biến về chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam dày 96 trang (ký số 7404 – Sài Gòn 3.1974) với lời dẫn nhập:

“Vụ Trung Cộng đột nhiên xâm lăng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam trở thành một trong những vấn đề quan trọng và gây sôi động nhất vào đầu năm 1974. Có nhiều điểm đáng chú ý trong vụ nầy. Trước hết sự việc một nước lớn sử dụng lực lượng quân sự hùng mạnh để cưỡng chiếm lãnh thổ của một láng giềng nhỏ bé là một hành động mà nhân loại phải lên án. Về chi tiết trận hải chiến Hoàng Sa 19.1.1974, tài liệu trên thông tin:

1. So sánh lực lượng: Phía hải quân VNCH “có 4 chiến hạm”. Phía Trung Quốc “có 4 chiến hạm lớn, 2 tàu vũ trang nhỏ, 1 tàu chuyển vận loại trung và 1 pháo hạm không rõ loại”.

2. Tuy hỏa lực VNCH có “trội hơn đôi chút và các tàu của ta có sức chịu đựng cao hơn tàu địch”nhưng lại “kém hơn về số lượng và vận tốc”. Lại thêm: “điểm bất lợi lớn lao nhất là chiến hạm ta ở ngoài tầm yểm trợ của không quân Việt Nam, trong khi Trung Cộng có thể huy động phản lực cơ Mig, đưa thêm chiến hạm có gắn hỏa tiễn và cả tiềm thủy đỉnh tới trợ chiến”.

3. Về bố trí chiến thuật của hai bên: Hải đội Trung Quốc “dàn thành hai vòng cung phía tây đảo Quang Hòa: phía ngoài là 4 hộ tống hạm gồm 2 chiếc loại Kronstadt và 2 chiếc loại T43, phía trong là 2 tàu võ trang và 1 tàu chuyển vận”. Hải đội VNCH “làm một vòng bao phía ngoài tàu địch cách xa bờ từ 4 – 6 cây số gồm có khu trục hạm HQ.4, tuần dương hạm HQ.5, hộ tống hạm HQ.10 và tuần dương hạm HQ.16”.


Lược đồ vị trí chiến thuật của các chiến hạm trong trận hải chiến 19.1.1974

Diễn tiến trận đánh (nguyên văn):

Hồi 6 giờ 30: “Ta bắt đầu đổ bộ biệt hải và hải kích lên Quang Hòa, trong khi đó Trung Cộng cũng đổ bộ lên đảo. Một giờ sau, ta hoàn tất việc đổ bộ, toán xung kích của ta ở trong tình trạng rất nguy hiểm: phía trước mặt có khoảng 1 trung đội địch chưa kể các binh sĩ núp trong công sự chiến đấu, mới dựng mấy ngày trước, phía sau lưng có một đại đội địch vừa đổ bộ”.

– 8 giờ 30: “lực lượng địch trên đảo nổ súng gây cho ta 2 chết và 2 bị thương. Phía ta bình tĩnh chưa nổ súng lại và đợi lệnh. Trong lúc đó ngoài biển chiến hạm địch húc mũi vào chiến hạm ta, nhưng ta né tránh được và chuyển vận húc trả đũa”. 

– 8 giờ 52: “lực lượng hành quân của ta tại Hoàng Sa được lệnh phản pháo tự vệ –  toán đổ bộ được lệnh triệt thoái xuống tàu”.

10 giờ 25: “trận hải chiến Việt Nam – Trung Cộng khai diễn rất dữ dội, hai bên sử dụng toàn thể hỏa lực nặng nhẹ để tiêu diệt nhau, nên chiến hạm nào cũng bị trúng nhiều phát đạn. Ngay trong ít phút đầu, một tàu Kronstadt bị trúng đạn bốc cháy, nhiều thủy thủ của ta sau đó cho biết tàu đã bị nổ và chìm, tuy nhiên chưa xác nhận rõ được kết quả, 2 chiếc T-43 thì một cháy và một bị trúng đạn ngay phòng lái không điều khiển được. Chiếc Kronstadt thứ nhì của địch bị trúng đạn nặng, nghiêng và ủi mạnh vào bờ san hô gần đó, phần lái bị chìm, tàu coi như bị phá hủy  hoàn toàn. Về phía ta, các chiến hạm HQ.4 và HQ.5 đều trúng đạn, hư hại dụng cụ liên lạc vô tuyến và bị nhiều lỗ thủng trên sàn tàu. Tuy nhiên những thiệt hại đó đều nhẹ và chiến hạm tiếp tục chiến đấu được. HQ.16 bị trúng đạn hư hại một phần máy và lườn tàu bị thủng nước tràn vào, chiến hạm vừa tác chiến vừa rút dần khỏi tầm đạn địch về phía Tây. Riêng chiến hạm HQ.10 bị thiệt hại nặng nhất, chiến hạm này là chiếc nhỏ nhất trong 4 chiến hạm của ta tham chiến, võ khí chỉ có một đại bác 76 ly, 2 khẩu 40 ly và vận tốc kém nhất. Bị địch dồn hỏa lực nặng vào đài chỉ huy và hầm máy, HQ.10 chịu nhiều thiệt hại nhân mạng, hạm trưởng tử trận, những đoàn viên còn lại anh dũng cầm cự đến phút chót và chỉ bỏ tàu lúc 11 giờ 00 khi toàn thể chiến hạm bốc cháy dữ dội”.

11 giờ 10: “Trung Cộng tăng cường thêm 2 tàu loại Komar có trang bị hỏa tiễn và vận tốc nhanh gần gấp hai tàu của ta. Sợ bị lâm vào thế thất lợi, các chiến hạm của ta được lệnh rời chiến trường. Đến 11 giờ 21 thì trận hải chiến kết thúc. Sau một giờ giao tranh chiến hạm Việt Nam và chiến hạm Trung Cộng ở ngoài tầm súng của nhau”.

Buổi chiều: “Các chiến hạm của ta trở về bảo vệ các đảo Hoàng Sa, Cam Tuyền, Vĩnh Lạc, đồng thời tìm cách tiếp cứu cho HQ.10”

Buổi tối: “Ba chiến hạm hải quân được lệnh trở về Đà Nẵng, chiến hạm HQ.11 và 3 tiểu đỉnh đến Hoàng Sa thay thế nhiệm vụ”.

Từ Bộ chỉ huy tối cao ở Bắc Kinh, qua điện báo khẩn của đại quân khu Quảng Châu và báo cáo tổng hợp trong ngày (19.1) của Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu, Mao Trạch Đông – Chu Ân Lai – Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình biết tình hình chiến sự ở Hoàng Sa chưa “dứt điểm” hẳn theo dự kiến, liền phát lệnh máy bay Mig xuất kích. Đây là con “chủ bài” quyết định thế trận Hoàng Sa.

Kỳ 39: Hoàng Sa trước những “cái bắt tay tội lỗi” giữa Mao Trạch Đông và Nixon

Mao Trạch Đông tung máy bay Mig vào không phận Việt Nam đã nâng thành phần đội quân đi xâm chiếm Hoàng Sa lên “mức phối hợp tổng lực” (hải lục không quân) bộc lộ rõ ác tâm bành trướng ra biển Đông theo thỏa hiệp “cân bằng lực lượng ở châu Á – Thái Bình Dương” đã bàn với tổng thống Mỹ Nixon trước đó…


Cái bắt tay tội lỗi giữa Mao Trạch Đông và Nixon đã dẫn đến
thái độ lạnh lùng của Mỹ trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974

Đêm 19.1.1974, quân đội Việt Nam Cộng hòa (VNCH) vẫn trú phòng tử thủ Hoàng Sa sau trận hải chiến. Sáng hôm sau:

Ngày 20.1.1974: “Các phi cơ Mig Trung Cộng xuất hiện và oanh tạc 3 đảo còn quân ta đóng giữ, các chiến hạm của ta phải phân tán về hướng Tây Nam. Một số chiến hạm Trung Cộng đến hải kích vào các đảo Hoàng Sa, Cam Tuyền, Vĩnh Lạc. Sau đó bộ binh Trung Cộng đổ bộ. Ta mất liên lạc với các toán quân trú phòng hồi 10 giờ 45”.

Tài liệu VNCH (đã dẫn ở Kỳ 38) tường thuật tiếp, nêu tổn thất của đôi bên (tr. 24) :

* PHÍA VIỆT NAM CỘNG HÒA:

Về tàu chiến: “1 chiếc bị hư hại toàn diện (hộ tống hạm HQ.10), 1 chiếc hư hại nặng (tuần dương hạm HQ.16), 2 chiếc khác bị hư hại nhẹ (khu trục hạm HQ.4 và tuần dương hạm HQ.5)”.

Về nhân mạng: “18 tử thương, 43 bị thương, 116 mất tích trên các đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc, Hoàng Sa và 59 người trên hộ tống hạm HQ.10”.

* PHÍA TRUNG CỘNG:

Về tàu chiến: “1 chiến hạm loại Kronstadt bị cháy và chìm, 1 chiếc bị hủy hoại, ủi vào bờ sau đó, 2 tàu loại T43 hư hại nặng khó phục hồi được”.

Về nhân mạng: “không ghi nhận được nhưng chắc chắn là rất nặng nề”.

(Sau này, từ Bắc Kinh, Tân Hoa xã loan báo phía Trung Quốc: có 4 chiến hạm bị trúng đạn, 18 tử thương, 67 bị thương. Và một số sĩ quan binh lính VNCH trực tiếp tham chiến ở “mặt trận Hoàng Sa 1974” có những bài viết và phát biểu mà chúng tôi sẽ nêu sau, vào một dịp thuận tiện). Trở lại tài liệu của VNCH:

* Tại quốc nội: “Hầu hết các tỉnh tại miền Nam Việt Nam bao gồm dân chúng và các đại diện dân cử, đoàn thể tôn giáo, đảng phái, nghiệp đoàn, hiệp hội, đã lần lượt tổ chức mít-tinh, hội thảo, tuần hành, ra quyết nghị để “lên án đế quốc Trung Cộng” (…) và thỉnh cầu Liên Hiệp Quốc, Tòa án quốc tế La Haye có biện pháp thích đáng đối với Trung Cộng (…) ”.

* Tại quốc ngoại: Việt kiều và sinh viên du học ở “Pháp, Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Tây Đức, Ý, Mã Lai Á, Ai Lao, Cộng hòa Khmer… cũng có những phản ứng rất quyết liệt. Sinh viên Việt Nam tại Thụy Sĩ còn tuyệt thực 24 giờ và tổ chức đêm không ngủ phản đối Trung Cộng tại Lausanne ngày 26.1.1974”.

* Dư luận quốc tế: Thủ tướng Tân Tây Lan Norman Kirk tuyên bố: “với tư cách hội viên Liên Hiệp Quốc, Tân Tây Lan không thể tán thành hành động võ lực của Trung Cộng”. Hòa Lan và Nam Dương cũng lên tiếng với nội dung tương tự. Ngoại trưởng Costa Rica là tiến sĩ Gonzalo Jr. Facio – đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc – cho biết Costa Rica ủng hộ Việt Nam. Ở Úc, tờ Sydney Morning Herald chỉ trích chính sách bạo lực của Trung Cộng, nhận định rằng “ngoài lý do kinh tế, chiến lược và chính trị nội bộ – Trung Quốc đang lợi dụng những yếu tố khác để chiếm đoạt Hoàng Sa”.

* Thái độ của Liên Xô: Tờ Pravda  (Sự Thật) – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Liên Xô –đã chỉ trích hành động quân sự thô bạo của Trung Quốc (số ra ngày 27.1.1974) và bình luận:“Mao Trạch Đông chủ tâm reo rắc mầm mống xáo trộn trong đời sống quốc tế với thâm ý phá hỏng chính sách hòa hoãn và che đậy cảnh tranh quyền và khó khăn ngày càng tăng trong nội bộ Trung Cộng” (số ra ngày 10.2.1974).

* Thái độ của Mỹ:“không can dự” dầu VNCH rất cần được yểm trợ. Cả việc tìm vớt “nhân đạo” các binh sĩ Việt Nam sống sót bị trôi dạt trên biển sau trận hải chiến cũng bị Hạm đội 7 của Mỹ làm ngơ, phải nhờ đến ngư dân miền Trung: “ngày 30.1.1974 có 14 chiến sĩ biệt hải sau 11 ngày lênh đênh trên biển được ngư phủ vớt đem về điều trị tại Quân y viện Quy Nhơn” (tài liệu VNCH đã dẫn). Cách xử sự “lạnh lùng” kiểu Mỹ của tổng thống Nixon trong biến cố Hoàng Sa, theo các nhà quan sát thời cuộc lúc đó, đã bộc lộ phần nào những “thỏa thuận ngầm” giữa Mao Trạch Đông và Nixon trong chiến lược “cân bằng lực lượng” đôi bên ở châu Á – Thái Bình Dương. Đặc biệt Mao – Nixon “bắt tay” để kiềm siết Việt Nam trong bom đạn (của Mỹ) và tràn chiếm vùng đảo Hoàng Sa (bởi Trung Quốc) một cách nhịp nhàng và tội lỗi từ 1972 – 1974.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s