Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 34

Kỳ 34: Đài Loan trước “nước cờ hai mặt” của Nixon
Kỳ 35: Câu hỏi “bạt mạng” của ký giả Vallace.
Kỳ 36: Từ vụ án Cao Cương đến dự trữ ngoại tệ ‘bốn số không’

Kỳ 34: Đài Loan trước “nước cờ hai mặt” của Nixon

Giao Hưởng – Đăng Bởi Một Thế Giới – 04-08-2014

Mao Trạch Đông rất cứng rắn, đòi: “Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch phải bị đuổi khỏi Liên Hiệp Quốc (điều thứ nhất) và Mỹ phải hủy bỏ sự thừa nhận ngoại giao cùng các hiệp ước quân sự đã ký với Đài Loan (điều thứ hai)” !


Nixon và Mao Trạch Đông

Nếu hai điều đó chưa đáp ứng, thì “một ngày giờ cụ thể cho chuyến đi Bắc Kinh của tổng thống Mỹ Nixon” (xem Kỳ 24 và 25) cũng không được Mao ấn định và có thể “hai dòng nước ngược” sẽ bỏ lỡ cơ hội hợp lưu.

Nixon “chỉ đủ sức” đáp ứng “một nửa” đòi hỏi của Mao. “Một nửa” ấy đủ gây bất lợi lớn cho phía Đài Loan. Đó là: Mỹ tạo áp lực loại “Trung Hoa dân quốc” khỏi LHQ (điều thứ nhất) bằng “nước cờ hai mặt”:

Mặt công khai, Nixon chỉ thị Đại sứ Mỹ ở LHQ “bảo vệ bằng bất cứ giá nào chiếc ghế đại diện của Tưởng Giới Thạch”. Mặt thực chất: “phía sau sân khấu, Nixon và Kissinger (Cố vấn An ninh của tổng thống) tìm cách làm yếu địa vị của Tưởng” trước ngày LHQ bỏ phiếu (Amter, sđd Kỳ 25, tr. 369).

Kết quả cuối cùng: “vào 25 tháng 10 (1971), LHQ biểu quyết bằng 76 phiếu thuận, 35 phiếu chống, và 17 phiếu trắng, khai trừ Đài Loan và kết nạp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là chính phủ duy nhất đại diện cho Trung Quốc” (R. Nixon, sđd Kỳ 24, tr. 679).

Để phân trần về giải pháp “hai mặt” bị giới truyền thông Đài Loan lật ngửa và chỉ trích, Hồi ký Richard Nixon viết: “chúng ta ủng hộ ý tưởng về “hai nước Trung Hoa”  gồm: Cộng hòa Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cộng sản, mỗi nước đều là thành viên của tổ chức Liên Hiệp Quốc” và mong muốn “Đài Loan vẫn được tồn tại sau khi Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được kết nạp (vào LHQ) theo một quy chế bình đẳng”, nhưng quyết định của LHQ đã “đi xa hơn rất nhiều so với điều chúng ta (chính phủ Mỹ) chờ đợi” – bù lại“chúng ta tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế một cách ưu đãi cho một nước Đài Loan độc lập”(!) – sđd, tr. 679.

Được đáp ứng, dù mới ở mức của “điều thứ nhất”, Mao Trạch Đông cũng tỏ thiện chí “nhã nhặn” và bằng lòng đón Nixon tại Bắc Kinh như đã viết. Song “vấn đề Đài Loan” vẫn hết sức gay go khi hai bên muốn thể hiện bằng văn bản trong thông cáo chung Trung – Mỹ (công bố vào cuối chuyến đi của Nixon).

Phía Trung Quốc khẳng định: “Chính phủ Trung Quốc kiên quyết phản đối mọi hoạt động nhằm thiết lập một nước Trung Quốc và một nước Đài Loan, một nước Trung Quốc và hai chính phủ, hoặc hai nước Trung Quốc và nước Đài Loan độc lập”. Mỹ “chọn lối thoát” bằng cách nêu lập trường của mình qua lời văn “mập mờ” như sau: “Hoa Kỳ thừa nhận mọi người Trung Quốc ở hai bên eo biển Đài Loan đều khẳng định rằng chỉ có một nước Trung Quốc. Và Đài Loan là một bộ phận cấu thành toàn bộ của Trung Quốc. Chính phủ Hoa Kỳ không tranh cãi về quan điểm này. Chúng tôi khẳng định lại mối quan tâm tha thiết của mình đến một giải pháp hòa bình về vấn đề Đài Loan (sẽ được giải quyết) bởi chính bản thân của người Trung Quốc”.

Hồi ký Richard Nixon viết rõ hơn: “Chúng tôi khẳng định rằng mục tiêu cuối cùng  của chúng tôi là rút quân đội của mình ra khỏi Đài Loan, nhưng chúng tôi không ấn định ngày rút và từng thời kỳ một chúng tôi sẽ tuyên bố về thỏa thuận rút dần quân đội và thiết bị của chúng tôi ở Đài Loan tùy theo mức độ giảm bớt căng thẳng trong vùng này (châu Á – Thái Bình Dương)” – sđd. tr. 711.

Quan điểm hai bên ghi vào thông cáo Thượng Hải (2.1972). Hơn 14 năm sau (9.1986), ký giả Michell Vallace đến Trung Nam Hải phỏng vấn Đặng Tiểu Bình, hỏi: “Đài Loan có cái gì nhất thiết phải thống nhất?”. Đặng Tử Bình trả lời: “Đây trước hết là vấn đề dân tộc, vấn đề tình cảm dân tộc” – rồi nhấn mạnh:

– “Phàm là con cháu của Viêm Hoàng – tổ tiên chúng tôi là Viêm Đế, Hoàng Đế – thì đều mong mỏi Trung Quốc được thống nhất. Sự phân chia thế này là đi ngược ý chí của dân tộc. Thứ nữa, một khi Đài Loan không thống nhất với đại lục, địa vị của Đài Loan với tư cách là lãnh thổ của Trung Quốc không được khẳng định, không biết một ngày nào đó sẽ lại bị người ta lấy đi mất”(Nhiếp Nguyệt Nham, sđd ở Kỳ 28, tr. 388).

Về hướng xử trí, Đặng Tiểu Bình nói: “Chúng tôi dùng phương thức “một nước hai chế độ” để thống nhất. Đại lục theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Đài Loan theo chế độ tư bản chủ nghĩa. Điều đó không làm đảo lộn lối sống của nhân dân Đài Loan. Người Đài Loan không bị thiệt gì”. Câu trả lời do Đài truyền hình Colombia ở Mỹ phát sóng lập tức được các bình luận gia thời sự khắp thế giới đua nhau phân tích “mổ xẻ”, vì nó không giới hạn trong “vấn đề Đài Loan”, mà có tác dụng mở rộng hơn, để cho thấy “chuyển động mạnh” đang diễn ra ở Trung Quốc thời kỳ mở cửa và cải cách “sau Mao Trạch Đông”. Một trong các “chuyển động” ấy là:

Mao Trạch Đông “đố kỵ việc làm giàu”, Đặng Tiểu Bình lại nêu khẩu hiệu: “Ra sức làm giàu”.Ký giả Vallace đặt câu hỏi: “rất nhiều người ở các nước tư bản phương Tây cảm thấy bất ngờ, khẩu hiệu “ra sức làm giàu” thì liên quan gì đến chủ nghĩa cộng sản?”. Đặng Tiểu Bình:

“- Chúng tôi đã nếm mùi Đại cách mạng văn hóa. Trong Đại cách mạng văn hóa có một quan điểm về chủ nghĩa cộng sản như sau: “Thà làm cộng sản nghèo, còn hơn làm tư bản giàu”. Năm 1974-1975 khi tôi được trở lại công tác ở trung ương tôi đã phản bác quan điểm đó, thế là tôi lại bị đánh đổ lần nữa, dĩ nhiên là còn do nguyên nhân khác cộng vào (…) “Ra sức làm giàu”, rất giàu, không phải là có tội. Nhưng “ra sức làm giàu” của chúng tôi không giống như bên các ông”. Không giống ở điểm nào?

Kỳ 35: Câu hỏi “bạt mạng” của ký giả Vallace

Vallace hỏi: “Ngài từng nói, ngài sống đến trăm tuổi, rồi sẽ đi gặp ông Mác – khi đó, rất có thể Mao Trạch Đông đang ngồi bên Mác, liệu hai vị ấy sẽ nói gì với ngài?”


Đặng Tiểu Bình – ảnh chụp trên tờ Telegraph

Đặng Tiểu Bình chưa trả lời ngay sẽ gặp Mác và Mao ra sao ở “chín suối”, ông nói đến cõi “Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai” của mình trước:

– Tôi là một người theo chủ nghĩa Mác. Trước đây chúng tôi làm cách mạng, giành chính quyền, lập nên nước CHND Trung Hoa chính là nhờ có niềm tin và có lý luận đó. Sau cách mạng, chúng tôi tiến hành xây dựng đất nước, cũng tuân theo chủ nghĩa Mác mà xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mọi nhiệm vụ của chúng tôi hiện nay là đề cao chủ nghĩa xã hội. Chúng tôi thực hiện “bốn hiện đại hóa”, người ta thường quên bốn hiện đại hóa là gì, là “bốn hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa”. Đó là công việc hiện nay của chúng tôi.

Vallace lặp lại câu hỏi cũ theo “cách nói mới”:

-… Không biết Mao Trạch Đông sẽ nhìn nhận một số việc hiện hành như thế nào? Giới lãnh đạo Trung Quốc hiện nay chủ trương “ra sức làm giàu”, chủ trương hạnh phúc cá nhân, cho phép tư nhân lập xí nghiệp, chuẩn bị cải cách chính trị, dân chúng được tự do ngôn luận. Tất cả những cái đó đều không giống chủ trương của Mao Trạch Đông, không biết Mao Trạch Đông sẽ đánh giá ra sao?

Đặng Tiểu Bình:

Có đôi điều không giống, nhưng có một vài nguyên tắc giống nhau, hiện tư tưởng Mao Trạch Đông vẫn còn là tư tưởng chỉ đạo của chúng tôi…

Vậy tư tưởng chỉ đạo ấy của Mao là gì? Tân Tử Lăng nêu: “Tháng 1.1940, Mao Trạch Đông công bố tác phẩm “Bàn về chủ nghĩa dân chủ mới”: về chính trị chủ trương chính phủ liên hiệp, phản đối nền chuyên chính một đảng, về kinh tế bảo hộ chế độ tư hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, quan tâm cả công hữu và tư hữu, chủ thợ cùng có lợi, thực hiện chính sách vừa đoàn kết, vừa đấu tranh với giai cấp tư sản (…) lý luận kiến quốc dân chủ mới là tinh hoa của tư tưởng Mao Trạch Đông (khi lên cầm quyền, Mao Trạch Đông đi ngược lại những gì mình đã nói). Đặng Tiểu Bình kế thừa lý luận trên, tham khảo kinh nghiệm thành công của chủ nghĩa xã hội dân chủ châu Âu, đã hình thành lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường cải cách – mở cửa mang màu sắc Trung Quốc, mở ra con đường chủ nghĩa xã hội dân chủ Trung Quốc”.

Ở câu hỏi khác, Vallace nhắc khéo bệnh “sùng bái cá nhân” (quá nặng ở thời Mao), bảo sao chưa thấy “treo ảnh của ngài (Đặng Tiểu Bình)” ở nơi công cộng? Đặng đáp:

Cá nhân tôi, trong nhiều năm có làm được không ít việc tốt, nhưng cũng có một vài việc sai lầm. Trước “đại cách mạng văn hóa”, chúng tôi phạm một số sai lầm ví dụ chủ trương Đại nhảy vọt, dĩ nhiên tôi không phải là người chủ xướng, nhưng tôi đã không phản đối, chứng tỏ trong sai lầm Đại nhảy vọt cũng có phần tôi.

Về  khẩu hiệu mới “ra sức làm giàu” của giới lãnh đạo Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình giải thích:

– Ra sức làm giàu cho chủ nghĩa xã hội là cùng nhau “ra sức làm giàu”. Nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, một là phát triển lực lượng sản xuất; hai là cùng nhau “ra sức làm giàu”. Chính sách của chúng tôi là cho phép một số người giàu có trước, nhằm mục đích nhanh chóng thực hiện nguyên tắc cùng nhau “ra sức làm giàu” (…) chính là để đạt tới nguyên tắc cuối cùng: Tất cả đều giàu có…

Vallace bảo đã thấy nông dân ở vùng tam giác sông Châu Giang, tỉnh Quảng Đông, đua nhau sắm xe gắn máy, tivi màu, xây nhà mới, Đặng Tiểu Bình dang tay nói:

So với bên nước các ông, mấy thứ đó có đáng gì? Dù ở nông thôn, nhà nào có vài vạn nhân dân tệ, chẳng qua cũng chỉ hai ba ngàn đô la, đã được người ta tán dương cho là giàu, mà đấy là thu nhập cả năm, làm sao có thể được coi là giàu kia chứ (…) so với thu nhập ở các nước phát triển, thì còn thấp lắm”.

Vallace hỏi: thời kỳ “sau Đặng Tiểu Bình” liệu Trung Quốc có quay trở lại tình trạng nghiệt ngã như trước kia?. Đặng khẳng định: “chắc chắn là không!”. “chính sách hiện hành mà thay đổi, đời sống nhân dân chắc chắn sẽ sút kém ngay. Nếu nhân dân cho rằng chính sách hiện hành là đúng, thì ai lại đi thay đổi, ai lại muốn bị đả đảo ?”.

Những nội dung liên quan đến cuộc phỏng vấn Đặng Tiểu Bình của ký giả Vallace (từ kỳ 33 đến kỳ này) do chúng tôi tóm lược và trích dẫn từ cuốn Đặng Tiểu Bình giữa đời thường – nguyên tác: “Sinh hoạt trung đích Đặng Tiểu Bình” của Nhiếp Nguyệt Nham, NXB Giải phóng quân, Bắc Kinh 1999 – do cố dịch giả Lê Khánh Trường (1963-2008) chuyển ngữ (sđd ở Kỳ 28, tr. 377-398). Thêm đoạn Vallace “khai thác” Chủ tịch Đặng: “Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình không giống như Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, xem ra hiện nay Trung Quốc đang tiến hành một cuộc cách mạng mới ?”. Đặng Tiểu Bình: “Ông nói đúng (…) làm cuộc cách mạng mới nầy khó tránh khỏi sai lầm – biện pháp của chúng tôi là không ngừng tổng kết kinh nghiệm, có sai phải sửa ngay, không để cho cái sai nhỏ trở thành sai lầm lớn”. Câu nói ấy của Đặng vẫn có giá trị “giáo khoa thư” giữa thời Tập Cận Bình này: “sai phải sửa” !

Kỳ 36: Từ vụ án Cao Cương đến dự trữ ngoại tệ ‘bốn số không’

Liên Hiệp Quốc triệu tập hội nghị đặc biệt (Kỳ họp thứ VI – 4.1974) gồm các nguyên thủ quốc gia (tổng thống) hoặc người đứng đầu chính phủ (thủ tướng) các nước…


Đặng Tiểu Bình và tổng thống Mỹ Jimmy Carter tại Washington năm 1979

Mao Trạch Đông muốn cử Đặng Tiểu Bình đi (thay vì Chu Ân Lai), có ý phát tín hiệu để thế giới biết “Đặng sẽ thay Chu” (lúc ấy Mao còn giữ ý định móc Đặng vào chân ghế của mình).

Để tránh tiếng, Mao khẩu dụ Bộ Ngoại giao viết đề nghị đưa lên Bộ Chính trị bàn bạc. Tại cuộc họp, Giang Thanh quyết liệt phản đối, không đồng ý cử Đặng Tiểu Bình làm Trưởng phái đoàn Trung Quốc tại diễn đàn LHQ. Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên lên tiếng ủng hộ ý kiến Giang.

Thấy áp lực của “tứ nhân bang” đang trỗi mạnh, những người khác ngồi im. Mao hay tin, buộc phải nói thẳng ý mình, viết thư gởi Giang Thanh: “Cử đồng chí Đặng Tiểu Bình xuất ngoại là ý kiến của tôi, bà hãy thận trọng, không được phản đối đề xuất của tôi” (Trần Trường Giang – sđd Kỳ 8, tr. 318).

Nhận thư, Giang im luôn.

Chỉ còn đúng 10 ngày nữa lên đường, Đặng mới được chính thức “thông qua” đề cử trưởng đoàn (26.3.1974). Việc chuẩn bị khá lụp chụp và lại phát hiện thêm một “chuyện khó tin” trong hoạt động tài chính quốc gia. Chuyện do Chương Hàm Chi kể và tài liệu Tân Tử Lăng ghi:

“Mọi việc sắp xếp xong xuôi, đột nhiên nhớ đến sang Mỹ phải dùng đô la Mỹ, không thể dùng NDT, liền khẩn cấp lệnh cho các ngân hàng trong cả nước tập hợp USD. Được bao nhiêu? 38.000 USD ! Đó là toàn bộ dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc hồi ấy. Tôi không tin, tra “Tổng biểu dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc những năm qua”, thấy số liệu trong biểu năm 1974 là 0000 (vì dưới 100.000 không tính, nên là 4 con số 0)”.

Lần đó Đặng Tiểu Bình dẫn đoàn đại biểu sang New York đã mang toàn bộ dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc theo ! Đoàn ở khách sạn sang trọng, nảy sinh chuyện khó xử là “không có tiền “boa” nhân viên phục vụ, trưởng đoàn Đặng Tiểu Bình phải đem toàn bộ kinh phí cá nhân của mình cho nhân viên phục vụ khách sạn, khi về nước chỉ có một thanh socola làm quà cho cháu gái. Dự trữ ngoại tệ của nước ta (đầu thế kỷ 21) hiện nay bao nhiêu ? 1.200 tỉ USD, vượt Nhật Bản, đứng đầu thế giới. Cải cách mở cửa đã cứu vãn nền kinh tế quốc dân đang trên bờ vực thẳm sụp đổ. Nay có người nói: “Đại cách mạng văn hóa không đẩy kinh tế quốc dân tới bên bờ vực thẳm, xây dựng kinh tế trong Đại cách mạng văn hóa đạt thành tựu lớn biết chừng nào” – toàn là những lời lẽ làm như chữa lành vết thương rồi quên ngay những đau đớn đã qua”.

Cùng thời (tháng 5.1974): “sản xuất bị giảm mạnh, theo công bố – chỉ số sản xuất giảm 6,2%, vận tải giảm 2,5%, sản xuất thép giảm 9,4%, bội chi ngân sách lên tới 2,5 tỷ NDT. Một số cán bộ lâu năm đứng ra làm việc lại bị lật đổ, rất nhiều ban lãnh đạo bị rơi vào tình trạng tê liệt (…) Giang Thanh càng trở nên quá quắt, bà ta vừa tuyên truyền, đưa tài liệu, vừa kích động khắp nơi “đốt sạch”, “phá sạch”, nhà máy đình công, sản xuất nông nghiệp đình trệ” (Trần Trường Giang –sđd, tr. 321).

Dự trữ ngoại tệ “bốn số không” cùng nền kinh tế bị suy sụp do quốc sách sai lầm của Mao và còn vì những cuộc thanh trừng đấu đá diễn ra triền miên ngay từ những năm đầu thành lập nước. Điển hình là vụ án Cao Cương.

Theo tài liệu Tân Tử Lăng: “Cao Cương phụ trách 3 tỉnh Đông Bắc, là ngôi sao mới nổi lên thời kỳ đầu thành lập CHND Trung Hoa, thuộc phái thân Liên Xô, Mao cần dựa vào ông ta để khai thông quan hệ với Stalin. Tháng 6.1949, khi cùng Lưu Thiếu Kỳ và Vương Gia Tường sang Liên Xô thông báo tình hình và xin viện trợ, Cao Cương đã đề nghị sáp nhập 3 tỉnh Đông Bắc thành nước Cộng hòa thứ 17 của Liên Xô”.

Mao giận, gọi Cao về nước gấp. Muốn khai trừ Cao, nhưng Mao nén giận, tạm thời giấu kín “bản án tử hình”, ra vẻ thưởng công cho Cao, điều Cao lên Trung ương giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch nhà nước, nắm trong tay quyền điều động 15 cán bộ cấp cao trong đó có cả Đặng Tiểu Bình và Bành Chân.

Để Cao thêm yên tâm, Mao vẫn giao Cao kiêm nhiệm một lần 4 chức vụ chủ chốt vùng Đông Bắc: “Bí thư thứ nhất Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban quân chính, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu”.Tất cả những động thái đó nhằm để Cao Cương lầm tưởng đang được Mao trọng dụng, vì Mao có xu hướng đi theo đường lối thân Liên Xô: “mưu toan dựa vào Stalin để củng cố thế đứng cho mình”.

Cao Cương và bạn đồng minh chủ yếu là Trưởng ban Tổ chức trung ương Nhiêu Thấu Thạch tưởng đã “nắm được Mao”. Nào ngờ “Stalin vừa qua đời (1953) Mao liền tính sổ họ ngay, dựng lên vụ án “Tập đoàn chống đảng: Cao Cương – Nhiêu Thấu Thạch”, thủ đoạn của Mao lợi hại và đáng sợ đến mức các cán bộ cấp cao run rẩy” – dầu “được Mao tin cậy hay bị Mao nghi ngờ” họ cũng luôn phải cẩn trọng “ngó trước dòm sau”. Vì đi bên Mao khác nào “đi trên lưỡi dao cạo”

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s