Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 31

Kỳ 31: Ngô Hàm với vụ án “Hải Thụy bãi quan”
Kỳ 32: Bí thư thành ủy Bắc Kinh chống Mao Trạch Đông
Kỳ 33: Đài Loan: “Chiếc tàu sân bay không bao giờ chìm” của Mỹ?

Kỳ 31: Ngô Hàm với vụ án “Hải Thụy bãi quan”

Giao Hưởng – Đăng Bởi Một Thế Giới – 01-08-2014

Nhà sử học Ngô Hàm làm Phó thị trưởng Bắc Kinh phụ trách văn hóa giáo dục bị Mao Trạch Đông và Giang Thanh bức hại đến chết qua vụ án văn chương “Hải Thụy bãi quan”…


Giang Thanh (phía sau) thực thi việc “xử” Ngô Hàm”
vì vở diễn “dám đụng đến vua”

Vụ án được Mao “dàn dựng” từ năm 1965, trải hơn 14 năm sau, vào 1979 (thời Đặng Tiểu Bình nắm quyền) mới minh oan. Đặng Tiểu Bình và Ngô Hàm khá thân. Nói chuyện với nhau, Đặng tôn trọng không gọi thẳng tên, mà gọi Ngô Hàm bằng hai tiếng “giáo sư”. Hai người thường chơi bài giải trí ở nhà Đặng. Một dạo, Đặng thấy Ngô Hàm đánh bài lơ đễnh, giục: “Giáo sư “ra bài” đi chứ !”. Ngô Hàm buông mấy con bài xuống, trầm ngâm: “Mấy hôm nay tôi không thấy thích chơi bài lắm, xin lỗi”.

Cũng phải. Đặng hiểu và thông cảm. Bởi dạo ấy Ngô Hàm nghe phong thanh tin Giang Thanh đang được Mao Trạch Đông “cầm tay chỉ việc” sắp lôi vở kịch “Hải Thụy bãi quan” do ông sáng tác ra phê phán.

Ông viết vở ấy dựa theo nhân vật có thật trong lịch sử: Hải Thụy (1514-1587) – là vị quan thanh liêm và cương nghị sống qua bốn đời vua triều Minh: Chính Đức, Gia Tĩnh, Long Khánh, Vạn Lịch, làm Ứng thiên Tuần phủ, Nam Kinh sử bộ tả Thị lang, Nam Kinh tả thiêm đô Ngự sử. Ông chủ trương để dân chúng được phép tố cáo quan lại tham ô, lộng hành, nên bị không ít kẻ đương quyền căm ghét, muốn hãm hại.

Ông dũng cảm mắng hoàng đế, dâng “Trị an sớ” vạch tội Gia Tĩnh bỏ bê triều chính, không theo pháp độ các tiên vương, để quan lại lũng đoạn làm sai phép nước, đưa dân tình đến chỗ điêu linh, đói khổ, oán hờn… Gia Tĩnh tức giận bắt giam ông vào ngục, nhưng ông vẫn không khuất phục, giữ nguyên lời chỉ trích của mình.

Tả Thư Ngạc kết luận: “Cuộc đời và danh tiếng Hải Thụy sở dĩ được lưu truyền sử sách, được xếp vào một trong 100 nhân vật ảnh hưởng đến lịch sử Trung Quốc của cuốn sách này (Vương Huệ Mẫn chủ biên, sđd ở Kỳ 9, tr. 634-635), đó là vì phẩm hạnh của ông, tinh thần của ông siêu phàm thoát tục. Trong thâm tâm người dân đời sau, Hải Thụy là ông thanh thiên sánh với Bao Chửng đời Tống. Ông dám chống lại những áp lực kể trên, dám đương đầu với quan lại tham ô, dám trừng trị những kẻ nhận hối lộ, dám vì dân tình mà trách mắng hoàng đế Gia Tĩnh, có thể thấy ông không giống với người thường, có khí chất siêu phàm. Đó chính là tinh thần Hải Thụy mà người khác khó thể có được, là tính cách cương nghị bất khuất ở một vị quan thanh liêm”.

Ngô Hàm đã tái hiện nhân cách cao đẹp khác thường, khẳng khái của Hải Thụy qua tác phẩm của mình và đưa lên sân khấu Bắc Kinh đầu thập niên 1960. Thời điểm ấy Mao đã bãi chức Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ quốc phòng của Bành Đức Hoài vì dám phê bình thẳng thắn thất bại của Mao qua Đại tiến vọt.

Chu Ân Lai can: “Bành Đức Hoài 3 phần sai lầm, 7 phần công lao” – không nên mười phần xóa sạch cả mười. Mao không nghe, bẻ lại : “Bành Đức Hoài 3 phần hợp tác, 7 phần không hợp tác”. Nguyên soái Chu Đức mong Mao hãy “niệm tình” nương tay với Bành Đức Hoài, nghĩ đến thời Hồng quân vạn dặm trường chinh chung một chiến hào, không nên “hạ độc thủ”. Mao lạnh lùng, tay phải cầm tẩu thuốc hút, chân trái đưa cao hơn mặt bàn của cuộc họp, tay trái xoa xoa lên mặt giày, có ý mỉa mai Chu Đức nói vậy chỉ “gãi ngứa ngoài da”. Qua đó rõ là Mao đã gạt phăng ý kiến của các lãnh đạo trung ương cùng các lão nguyên soái và ghi mối “thâm thù” Bành Đức Hoài.

Nay Ngô Hàm sáng tác vở kịch “Hải Thụy bãi quan” mắng hoàng đế khác nào ám chỉ chuyện “Bành Đức Hoài chửi Mao”. Xem vở đó, Giang Thanh cho rằng “có vấn đề chính trị” và nói với người chung quanh “ma quỷ đã tràn lên sân khấu” (ám chỉ Ngô Hàm và vở kịch của ông). Về phía Mao, Mao giấu không để Thường vụ Bộ Chính trị biết, lẳng lặng ra khẩu lệnh để Giang Thanh lên chuyên xa rời Bắc Kinh xuống Thượng Hải sau Tết dương lịch 1965 gặp Kha Khánh Thi (Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư thứ nhất Thành ủy Thượng Hải – người đang được Mao tin cậy vì “lập công” trong Đại tiến vọt) để mật bàn cách “trừng trị” Ngô Hàm.

Từ đầu mối Kha Khánh Thi, Giang Thanh tiếp xúc với Trương Xuân Kiều (Bí thư kiêm Trưởng ban tuyên truyền của Thành ủy Thượng Hải) và thuộc hạ của Trương là Diêu Văn Nguyên.

Đây là lần đầu tiên Mao trực tiếp giao công tác quan trọng cho Giang.

Và cũng là lần đầu tiên Diêu Văn Nguyên chịu hợp tác với Giang để khởi đầu “sự nghiệp chính trị” của mình bằng việc chấp bút phê bình vở kịch lịch sử “Hải Thụy bãi quan” để mở đường đưa Ngô Hàm vào chỗ chết.

Đạp lên số phận điêu đứng của Ngô Hàm là bước đầu hình thành trục tội ác: Giang Thanh – Trương Xuân Kiều – Diêu Văn Nguyên, và kéo thêm Vương Hồng Văn nữa

Kỳ 32: Bí thư thành ủy Bắc Kinh chống Mao Trạch Đông

Mao Trạch Đông cho in bài phê phán vở kịch “Hải Thụy bãi quan” thành loại “sách bỏ túi” để bắt các cơ sở phát hành trên toàn quốc phải mua đọc, nhưng Bành Chân – Bí thư thứ nhất kiêm Thị trưởng TP. Bắc Kinh – dám “kháng chỉ” nói: “Bắc Kinh một cuốn cũng không mua” !


Mao Trạch Đông (phải) và Đặng Tiểu Bình:
kẻ vùi, người cứu Bành Chân

Bành Chân là một trong “bát đại nguyên lão” của Đảng CSTQ (sáng lập viên của đảng bộ Sơn Tây), lập công lớn trong chiến dịch giải phóng Bắc Kinh năm 1948 (lúc 46 tuổi) và được giao giữ trọng trách Bí thư thứ nhất Thành ủy Bắc Kinh từ đó.

Ba năm sau, vào 1951, Bành Chân kiêm luôn chức Thị trưởng TP. Bắc Kinh (trở thành thị trưởng thứ ba của thành phố này – hai thị trưởng trước là các nguyên soái: Diệp Kiếm Anh và Nhiếp Vinh Trăn). Được 15 năm, ông bị cách chức vì mâu thuẫn với Mao trong Đại cách mạng văn hóa.

Chuyện có mầm mống từ tháng 11.1965, lúc Giang Thanh gặp Bí thư thứ nhất Thành ủy Thượng Hải là Kha Khánh Thi tổ chức phê phán vở “Hải Thụy bãi quan” của Ngô Hàm: “Ít lâu sau Kha Khánh Thi chết, Giang Thanh đích thân xuất tướng, lấy Trương Xuân Kiều làm quân sư, Diêu Văn Nguyên làm “cây bút trứ danh”, thực hiện “ba kết hợp” bí mật soạn thảo. Bọn chúng trên thì giấu Cục Tuyên truyền và Bộ Chính trị, dưới thì giấu Thành ủy Thượng Hải và Cục Hoa Đông” để thảo “một bài văn tràng giang đại hải bình luận về vở kịch lịch sử đó” (Tôn Hồng Quân và Lương Tú Hà, Bốn người vợ của Mao Trạch Đông, sđd Kỳ 1, tr. 169-170).

Mao đích thân xem kỹ để “sửa đến ba lần”, rồi sai đăng trên tờ Văn Hối ở Thượng Hải khoảng đầu tháng 11.1965 và chỉ thị Giang Thanh đưa in bài ấy thành sách nhỏ. Cuối tháng 11.1965 in xong, điện khẩn yêu cầu các cơ quan văn hóa và phát hành sách trên toàn quốc phải đặt mua.Các nơi đều chấp hành. Riêng Bắc Kinh không muốn phổ biến bài trên của Diêu Văn Nguyên. Thị trưởng Bành Chân nói đại ý phải để xem chân lý thuộc về ai đã, chứ trước mắt qua nhiều lần họp các ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị chẳng có ai nói phải phê phán vở “Hải Thụy bãi quan” cả.

Bành Chân đến gặp Đặng Tiểu Bình hỏi ý kiến, Đặng trả lời: “Tôi đã xem vở kịch đó rồi, chẳng có sai phạm gì hết. Có một số kẻ muốn đạp trên lưng người khác để ngoi lên. Tôi chúa ghét hạng người ấy” (Nhiếp Nguyệt Nham, sđd Kỳ 28, tr. 289).

Hay tin Bành Chân chống lệnh, Bắc Kinh không mua sách, Mao ra mặt, bảo Chu Ân Lai trực tiếp truyền đạt chỉ thị của mình buộc Bành Chân phải họp hội nghị công tác tuyên truyền để thông báo đến tất cả cơ quan báo chí ở Bắc Kinh phải đăng lại bài của Diêu Văn Nguyên. Tình thế bắt Bành Chân phải nghe theo, song ông nhấn mạnh với mọi người đây chỉ là “thảo luận học thuật”, chưa phải “kết luận”.

Mao bực lắm, nhưng lúc đó đang cần “chính khách có trọng lượng” như Bành Chân tham gia Đại cách mạng văn hóa nên chưa khiển trách vội. Đợi đến ngày sinh nhật thứ 72 của mình vào 26.12.1965, Mao mời Bành Chân đến dự và đặt Bành ngồi đối diện mình ngay bàn tiệc chính. Gọi Trương Xuân Kiều đến bên, Mao giới thiệu Trương là “tú tài đỏ”, là “nhà lý luận sâu sắc” đã cùng Diêu Văn Nguyên tổ chức viết bài phê phán Ngô Hàm.

Bành Chân nâng cốc chúc thọ, Mao uống cạn, rồi nói – ẩn ý răn đe: “Đồng chí Bành Chân, tôi cũng kính ông một cốc, hy vọng ông học tập các đồng chí Thượng Hải (như Trương và Diêu), đưa cuộc đấu tranh phê phán ”Hải Thụy bãi quan” vào chiều sâu, đây là cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản trong lĩnh vực ý thức hệ, mong ông vượt qua cửa ải này”.

Tiệc tàn, vài tháng sau Mao lên tiếng chỉ trích gay gắt Thành ủy Bắc Kinh (ám chỉ Bành Chân) đã kết hợp với Ban tuyên truyền trung ương (ám chỉ Lục Định Nhất) cùng bao che kẻ xấu (Ngô Hàm).

Mao bảo: Bắc Kinh ngoan cố kín cửa đến nổi một mũi kim “đưa tới không lọt”, một hạt mưa “rót cũng không vào”. Còn Ban tuyên truyền trung ương là Điện Diêm vương, phải “đánh đổ Điện Diêm vương, giải phóng tiểu quỷ”.

Đến đầu tháng 5.1966, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng phê phán “tư tưởng tư sản phản động trong giới học thuật, giáo dục, báo chí, văn nghệ, xuất bản” và nêu nhiệm vụ “giành lại quyền lãnh đạo trong lĩnh vực văn hóa” chủ yếu nhằm vào Bành Chân, Lục Định Nhất.

Mao truyền đạt ý mình, quy kết: “Ngô Hàm là học phiệt” đang được “đại đảng phiệt” Bành Chân và Lục Định Nhất dung chứa. Tân Tử Lăng nhận định: “Mao nắm quyền phát ngôn, tiếng nói có sức nặng ghê gớm, đó là chỗ lợi hại của kẻ độc tài”. Được thế công khai, Giang Thanh đạo diễn lôi hơn 300 cán bộ trong đó có Bành Chân, Lục Định Nhất ra trước 30 vạn người để hồng vệ binh đấu tố tại Đại học Thanh Hoa đầu năm 1967.

Sang tháng 3.1968, Bộ trưởng Công an Tạ Phú Trị ra lệnh bắt giam giáo sư Ngô Hàm về tội“phản bội – cần được xử lý trong nội bộ nhân dân” hình thành vụ án “ngục văn tự” không cần xét xử. Đến 11.10.1968, sau nửa năm bị đánh đập tra khảo, Ngô Hàm chết thảm trong tù. Lúc đó Đặng Tiểu Bình cũng đã bị kết tội và buộc phải cùng vợ rời khỏi Trung Nam Hải, đày đi lao động tại Giang Tây, không được đem theo một người con nào hết.

Đến giai đoạn Đặng  Tiểu Bình lên cầm quyền (1979) đã đích thân chỉ thị để Ban tổ chức Thành ủy Bắc Kinh hủy bỏ kết luận trước kia của ban chuyên án về Ngô Hàm, khôi phục danh dự cho nhà sử học, đồng thời phục hồi sinh hoạt của nguyên lão Bành Chân.

Trải qua thực tế Đại cách mạng văn hóa mà mình cũng là nạn nhân, Đặng Tiểu Bình giữ cương lĩnh cầm quyền khác Mao. Đặng không miệt mài “đấu tố”, hủy hoại nhân tài, hao tốn tiền của và thời gian như Mao đã sa vào, mà nhắm đến “cục diện lớn”: phát triển kinh tế quốc dân.

Tại Đại hội Ngân hàng thế giới ngày 26.5.2004, Ôn Gia Bảo công bố từ khi Đặng Tiểu Bình mở cửa cải cách đến nay, kinh tế quốc dân Trung Quốc liên tục phát triển nhanh “năm 1979 đến 2003, giá trị tổng sản phẩm quốc dân từ 362,4 tỉ NDT tăng lên tới 11.690 tỉ NDT (…) mức tiêu dùng của cư dân cả nước bình quân hàng năm tăng 7%” – thu nhập của người dân thành thị tăng gấp 25 lần (từ 400 lên trên 10.000 NDT), thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng gần 20 lần (từ 150 lên 2.800 NDT). Các nhà nghiên cứu ngày nay đang tiếp tục đặt câu hỏi: Thành công như “ảo thuật” ấy từ đâu tới?

Kỳ 33: Đài Loan: “Chiếc tàu sân bay không bao giờ chìm” của Mỹ?

Mao Trạch Đông từng muốn: “sớm thu hồi các hòn đảo Đài Loan” đưa vào guồng máy chính trị của “đại lục đỏ”. Nhưng Đặng Tiểu Bình chủ trương khác Mao: “nhất quốc lưỡng chế” (để vẫn giữ “Đài Loan xanh” trong một nước “Trung Hoa thống nhất”) và nêu ý tưởng trên qua cuộc phỏng vấn của nhà báo hàng đầu thế giới: Michell Vallace…


Đặng Tiểu Bình và tổng thống Mỹ Ronald Reagan

Cuộc phỏng vấn phát sóng trên đài truyền hình Colombia nước Mỹ tạo nên “cơn sốt Đặng Tiểu Bình” trên toàn cầu vào mùa thu 1986 (lúc Đặng Tiểu Bình vừa mở tiệc sinh nhật mừng thọ 82).

Năm ấy Vallace 68 tuổi (sinh ở Boston, người Do Thái gốc Nga), đã một mình tiếp cận phỏng vấn hàng chục nhân vật nổi tiếng, từ tổng thống Lyndon Johnson, Richard Nixon, Ronald Reagan của Mỹ, đến giáo chủ Khomenie, quốc vương Muhamammad Pahlawi của Iran, tổng thống El Sadat của Ai Cập…

Không chỉ đơn thuần đưa tin “nóng” vụ Watergate, chiến sự Việt Nam, hoặc “lò lửa” Trung Đông, mà ngòi bút Vallace còn giúp công chúng chú ý tới các chi tiết góc cạnh liên quan đến những sự kiện mang tính toàn cầu trong các bình luận sắc sảo và hấp dẫn. Lần phỏng vấn Đặng Tiểu Bình này, Vallace tạo thêm ở tuổi sắp “cổ lai hy” của mình một dấu ấn trong lịch sử truyền thông. Vì những gì Đặng Tiểu Bình trả lời “không chỉ có giá trị tin tức, mà còn có giá trị khoa học quan trọng đối với việc nghiên cứu hiện trạng và tương lai của Trung Quốc”.

Biết Vallace là “một ký giả không dễ ứng phó” và lại phải “đối mặt trước ống kính camera”, nhưng “ông già 82” đang ở vị thế Chủ tịch Hội đồng cố vấn Trung ương ĐCSTQ Đặng Tiểu Bình vẫn sẵn sàng đối đáp trực diện.

Trước ngày đến Bắc Kinh, Vallace đề nghị buổi gặp mặt sẽ không diễn ra tại Đại lễ đường nhân dân – nơi Đặng Tiểu Bình vẫn thường tiếp khách – mà nên gặp tại Trung Nam Hải để khán giả ở Mỹ và trên thế giới nhân đó “được nhìn thấy nơi làm việc hàng ngày của các nhà lãnh đạo Trung Quốc”.

Đặng Tiểu Bình chấp thuận. Và hai người gặp nhau tại Tử Quang Các (trong Trung Nam Hải) lúc 10 giờ ngày 2.9.1986, đó là một buổi sáng được mô tả “trời thu trong suốt” với “nắng ấm chan hòa”. Váo cuộc, Vallace đi từ những “câu hỏi lớn” về cải cách kinh tế của Trung Quốc, quan hệ Trung – Mỹ và quan hệ Trung – Xô, đến một số điều “dễ đụng chạm” về các khó khăn của nhiều nhà đầu tư phương Tây khi làm ăn với Trung Quốc, và cả việc Đặng Tiểu Bình “quét dọn, nấu ăn, chẻ củi” vào giai đoạn cách mạng văn hóa vô sản dưới thời Mao.

Cả hai người rất hài lòng sau những “hỏi đáp” của họ, song công chúng và giới truyền thông nóng ruột vì suốt mấy ngày sau vẫn chưa thấy Đài truyền hình Colombia phát sóng. Các chi tiết cuộc gặp gỡ đều giữ kín. Phía Trung Quốc cũng vậy, Tân Hoa xã chỉ đưa tin chính thức và ngắn gọn, không tiết lộ bất kỳ câu hỏi hoặc câu trả lời nào của đôi bên.

Đặng Tiểu Bình “nhường” Đài truyền hình Colombia chế tác và phát sóng trước vào đêm chủ nhật 7.9 trong chương trình “60 phút cuối tuần”. Ngày hôm sau 8.9 (và 15.9), Nhân dân nhật báomới đăng tỉ mỉ toàn bộ cuộc phỏng vấn, trong đó Vallace hỏi về điểm “tế nhị nhất” về quan hệ Trung Quốc – Mỹ, rằng: “quan hệ song phương Trung – Mỹ có tồn tại cách biệt lớn không?

Đặng Tiểu Bình thẳng thắn: “Có !”. Rồi chỉ rõ: “Đó là vấn đề Đài Loan, tức là vấn đề thống nhất hai bờ biển Trung Quốc. Nước Mỹ có một kiểu nói đối với vấn đề thống nhất Trung Quốc, tức vấn đề Đài Loan, rằng nước Mỹ giữ thái độ “không can dự”. Kiểu nói đó không thành thực”. Không thành thực chỗ nào?

Đặng Tiểu Bình giải thích: “Bởi lẽ nước Mỹ xưa nay vốn vẫn can dự (vào Đài Loan)”. Đài Loan nằm cách Trung Quốc lục địa khoảng 150km, bao gồm đảo Đài Loan, đảo Bành Hồ Liệt và một số đảo cận kề, diện tích khoảng 36.000 km2, được phủ xanh quanh năm nhờ rừng (chiếm khoảng 70% lãnh thổ) và cây cối tươi tốt trồng khắp nơi. “Đài Loan xanh” có lịch sử chìm nổi từ thế kỷ 17 khi bị thực dân Hà Lan chiếm đóng (năm 1624) và được lực lượng Trịnh Thành Công vượt biển ra giải phóng (1661), rồi lại bị nhường cho Nhật (1895), đến giữa thế kỷ 20 mới trả về Trung Quốc (1945).

Nhưng chỉ 4 năm sau, vào 1949, Tưởng Giới Thạch bị quân giải phóng Trung Quốc đẩy ra biển, chạy về đảo Đài Loan thành lập chính quyền riêng: “Trung Hoa dân quốc” với sự ủng hộ của Mỹ. Mỹ viện trợ Đài Loan 2 tỷ đô la trong những năm đầu thập niên 1950, tiến tới ký kết Hiệp ước liên minh Mỹ – Đài Loan tháng 9.1954. Từ đó, quân đội Mỹ xúc tiến mạnh hơn nữa các cuộc tuần tra hải quân tại eo biển Đài Loan – Trung Quốc, đổ bộ 9.000 quân Mỹ lên Đài Loan, giúp Tưởng Giới Thạch xây dựng đội quân “quốc gia” 500.000 người để chống lại quân đội của Mao.

Ngoại trưởng Mỹ Dalles còn tuyên bố: “Tưởng Giới Thạch là người chủ thật sự của Trung Quốc và phải được phục hồi quyền lực” (Amter, sđd. tr.30) đào sâu thêm cách biệt giữa quan hệ Trung Quốc – Mỹ và khiến Mao càng căm giận Mỹ. Đặng Tiểu Bình nhắc:

– Thập niên 1950 ấy, Ngoại trưởng Dalles và tướng Mac’ Arthur đã coi Đài Loan là “chiếc tàu sân bay không bao giờ chìm” của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương, cho nên “vấn đề Đài Loanluôn luôn là vấn đề mấu chốt nhất trong khi đàm phán thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Trung Quốc.

Đến nay (2014) – “vấn đề Đài Loan” vẫn đang nhức nhối…

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s