Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 28

Kỳ 28: “Lời thề chính trị” của Đặng Tiểu Bình
Kỳ 29: Đặng Tiểu Bình lại giã từ… Trung Nam Hải!
Kỳ 30: Lật lại hồ sơ “chỉnh phong”

Kỳ 28: “Lời thề chính trị” của Đặng Tiểu Bình

Giao Hưởng – Đăng Bởi Một Thế Giới – 28-07-2014

“Tôi kiến nghị trong thời gian Chủ tịch lâm bệnh, để đồng chí Giang Thanh làm Quyền Chủ tịch. Tôi sẽ phụ tá đồng chí Giang Thanh như đã phụ tá Chủ tịch” – có phải Chu Ân Lai nói như vậy bên giường bệnh của Mao?


Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình (trái) ở Thiên An Môn năm 1963 (ảnh: Tân hoa xã)

Không. Chu không nói như vậy. Dầu đó là câu Mao chờ đợi ở Chu. Vì nói như thế Chu sẽ rơi vào “cái bẫy” cài sẵn, Mao sẽ rất hài lòng và sẽ nhanh chóng “đưa kiến nghị của Chu vào văn kiện Trung ương, phân phát trong toàn đảng, để chứng tỏ đây là Chu giới thiệu Giang Thanh kế tục, chứ không phải Mao thực hiện gia đình trị” !

Trường hợp Chu gật đầu “tiếp nhận quyền lực” ông sẽ không bao giờ ngồi lên “ngai vàng” mà Mao đã định sẵn cho Giang. Bởi, sớm muộn gì ông cũng sẽ “bị đánh đổ”- đi theo Lưu Thiếu Kỳ và Lâm Bưu vào tuyệt lộ. Vậy Chu phải nói thế nào?

Ông im lặng. Đợi đến khi sức khỏe của Mao khá hơn lên, mới đường hoàng nói rõ cho Phó Văn phòng trung ương Trương Diệu Từ biết: “nhờ đồng chí báo cáo Chủ tịch, chúng tôi vẫn làm việc dưới sự lãnh đạo của Người”. Vậy là Chu thoát khỏi “cái bẫy quyền lực” trước mắt, nhưng về sau làm Mao khó chịu hơn, vì: 

“Từ khi xảy ra vụ Lâm Bưu, Chu giúp Mao cứu vãn cuộc khủng hoảng chính trị lớn nhất của chính quyền ĐCSTQ, tiếp đó mở ra cục diện mới trong quan hệ Trung – Mỹ, chỉnh lại hướng đi đúng cho sự phát triển của nước Cộng hòa trong tương lai, lập nên công trạng lớn mọi người đều biết. Nhưng với Mao, Chu là trở ngại lớn nhất cho việc thiết lập vương triều họ Mao. Công lớn không thưởng, mà tăng cường hãm hại. Qua các tư liệu tham khảo của Tân Hoa Xã, Mao lo ngại thấy từ xử lý vụ Lâm Bưu đến đón tiếp Nixon, uy tín của Chu đã vượt mình ở cả trong nước và trên trường quốc tế. Cộng thêm trước đó Chu không có câu trả lời khiến Mao hài lòng trong màn kịch “trao quyền bên giường bệnh”. Mao quyết tâm trị Chu”.

Chu cũng nhận ra “thế đứng ngoài ánh sáng” của mình, luôn bị Mao và phe nhóm Giang Thanh giám sát động tĩnh từ “trong bóng tối”. Nên Chu ôn hòa kiên trì cùng các vị nguyên lão như Diệp Kiếm Anh, Vương Chấn tìm dịp đúng lúc để thuyết phục Mao phục hồi cho những người bị kết tội oan trái, trong đó có Đặng Tiểu Bình: “phải nói rằng Chu Ân Lai không chỉ là anh cả của Đặng Tiểu Bình, mà trong suốt hơn nửa thế kỷ, Đặng Tiểu Bình luôn luôn là trợ thủ đắc lực và chiến hữu trung thành của Chu Ân Lai” (Nhiếp Nguyệt Nham: Sinh hoạt trung đích Đặng Tiểu Bình,NXB Giải phóng quân, Bắc Kinh 1999. Bản Việt dịch của Lê Khánh Trường: Đặng Tiểu Bình giữa đời thường, NXB Trẻ, TP. HCM 2001, tr. 400).

Chu Ân Lai (sinh 1898) hơn Đặng Tiểu Bình 6 tuổi (sinh 1904), hai người quen nhau ở Paris (Pháp) và Đặng Tiểu Bình bắt đầu hoạt động dưới sự chỉ đạo của Chu Ân Lai qua công tác biên tập, xuất bản tờ  Xích quang của Đoàn TNCS Trung Quốc tại châu Âu năm 1923. Suốt hơn 50 năm sau, hai người đồng hành vào lịch sử của nước Trung Hoa cộng sản, gắn bó mật thiết nhất là giai đoạn cùng công tác ở cơ quan lãnh đạo cao nhất của nhà nước: Chu Ân Lai làm thủ tướng và Đặng Tiểu Bình làm phó thủ tướng. Đến thời Đại cách mạng văn hóa vừa bùng nổ, Đặng Tiểu Bình bị phe Lâm Bưu – Giang Thanh qui là “tên đầu sỏ thứ 2 trong Đảng thuộc phái cầm quyền đi theo con đường tư bản” và bị đưa đi lao động trong xưởng sửa chữa máy kéo ở Giang Tây từ 20.10.1969. Gần 4 năm sau, khi Lâm Bưu đã chết, Chu Ân Lai căn cứ vào lời phê của Mao đã chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị ra quyết định khôi phục sinh hoạt đảng và chức vụ Phó thủ tướng cho Đặng Tiểu Bình (10.3.1973).

Về lại Bắc Kinh “được Chu Ân Lai ủng hộ, Đặng Tiểu Bình đã lãnh đạo công tác chỉnh đốn đại quy mô, làm chuyển biến đại cục (dần dần chuyển “nguy” thành “an”) và chính vì thế mà ông bị “bè lũ bốn tên” căm ghét” (Nhiếp Nguyệt Nham, sđd. tr.403).

Ban đầu, Mao có chủ trương khác với Giang Thanh về Đặng, muốn “trọng dụng” Đặng để kéo Đặng và nhóm “bốn tên” vào với nhau, tạo “sức mạnh mới”. Từ ý đồ ấy, Mao giao Đặng hàng loạt chức vụ: Phó Chủ tịch đảng, Phó Thủ tướng thứ nhất, Phó Chủ tịch Quân ủy trung ương kiêm Tổng tham mưu trưởng quân đội. Rõ ràng Mao nâng vị trí của Đặng một sớm một chiều lên đỉnh điểm, chỉ “dưới một người” mà “trên vạn người”.

Nhưng càng về sau, Mao càng thấy Đặng rất khó lôi kéo. Cuối tháng 11.1975, Mao thử gợi ý để Đặng soạn thảo nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị theo hướng khẳng định “Đại cách mạng văn hóa thành công, 7 phần thành tích, 3 phần sai lầm – chỉ cần Đặng Tiểu Bình đáp ứng điều này, ông sẽ có cơ sở chính trị để hợp tác với Giang Thanh. Mao (lúc ấy) vẫn chưa từ bỏ ý định để Giang giám quốc – Đặng cầm quyền” – tức Đặng Tiểu Bình “lãnh đạo” nhưng phải làm theo “chỉ đạo” của Giang Thanh  – theo Tân Tử Lăng.

Nhưng Đặng “biết việc từ khi việc chưa phát” nên xác định: nếu cam tâm“sửa lại sự thật lịch sử”  theo ý của Mao, sau này Đặng không tránh khỏi sẽ bị “lịch sử phán xét”. Ông tìm cách từ chối nhẹ nhàng, không chịu thảo văn bản ca ngợi Đại cách mạng văn hóa. Mao thất vọng và nổi giận, phát động đợt “phản kích làn gió lật án hữu khuynh” chỉa mũi nhọn vào Đặng, chuẩn bị triệt hạ Đặng lần nữa.

Bấy giờ Chu Ân Lai đang nằm chữa bệnh tại bệnh viện, thừa biết Mao đã “phá hoại một thế giới cũ – nhưng lại không đủ sức xây dựng nổi một thế giới mới”. Người Chu kỳ vọng có đủ bản lĩnh thực hiện công cuộc kiến quốc thành công (khác với Mao đã thất bại) chính là trợ thủ đáng tin cậy nhất của mình: Đặng Tiểu Bình. Ông hồi hộp trăn trở khi hay tin Đặng sắp bị Mao “ra đòn” chí mạng, ép phải “làm theo ý mình”.

Và lo ngại chẳng hiểu Đặng có đứng vững nổi trước “trận cuồng phong” đang ập tới. Hay là Đặng sẽ bị lung lay, chọn giải pháp an toàn cho mình, thay đổi thái độ để thỏa hiệp chấp nhận“viết sai lịch sử”, đổi lấy vai  “đại thần phụ chính” của Mao đặt sẵn. Để thăm dò, Chu Ân Lai mời Đặng vào bệnh viện gặp mình, trịnh trọng hỏi: “Thái độ ông liệu có thay đổi không?”. Đặng trả lời dứt khoát:

Vĩnh viễn không !

Chu vui mừng: “Vậy tôi yên tâm rồi !”.

Tân Tử Lăng đánh giá : “Đây là lời thề chính trị giữa hai người, bất chấp vinh nhục và tính mạng bản thân”

Kỳ 29: Đặng Tiểu Bình lại giã từ… Trung Nam Hải!

Đặng Tiểu Bình không phụ lòng tin cậy của Chu Ân Lai – ông giữ đến cùng “lời thề chính trị” của mình, trung thành với Chu, đứng vững trước những cám dỗ của Mao, chấp nhận bị Mao đẩy ra khỏi Trung Nam Hải và nhận chỉ thị “tước bỏ mọi chức vụ” đương quyền, cách ly và giam lỏng…


Đặng Tiểu Bình (trái) và Mao Trạch Đông

Đã có nhiều nhận định và đánh giá về công lao cũng như khí tiết của Đặng Tiểu Bình trên sách báo Trung Quốc trong suốt thập niên đầu của thế kỷ 21. Ở đây chúng tôi trích dẫn bài của Sửu Khiết Minh mang tính “tổng luận” cao về Đặng:

“Đặng Tiểu Bình xác định quốc sách cơ bản của Trung Quốc là mở cửa với nước ngoài. Ông cho rằng: bất kỳ quốc gia nào nếu muốn phát triển thì không thể tự cô lập mình bằng chính sách bế quan tỏa cảng. Trung Quốc không nằm ngoài quy luật trên, phải mạnh dạn hấp thu các thành quả văn minh của nhân loại.

Với chủ trương mở cửa toàn diện, mở cửa với tất cả các quốc gia, tích cực phát triển thương mại quốc tế để thu hút đầu tư, ông ủng hộ việc áp dụng các thành tựu kỹ thuật mới nhất, cùng với các kinh nghiệm quản lý của nước ngoài. Mặt khác phải tăng cường hợp tác kinh tế, thu hút chất xám của nước ngoài – nhất là của cộng đồng Hoa kiều – và phái rất nhiều lưu học sinh đi du học. Ông là người quyết định thành lập cảng duyên hải. Ông cho các khu vực ven biển được trực tiếp làm ăn với nước ngoài và xây dựng khu phố Đông Thượng Hải.

Đặng Tiểu Bình là người rất thực tế nên khi giải quyết vấn đề Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao để thống nhất đất nước, ông luôn tôn trọng lịch sử và hiện tại. Xuất phát từ tình hình cụ thể, ông đề ra một ý tưởng rất sáng suốt: “Nhất quốc lưỡng chế” (một nước có thể cho phép tồn tại hai chế độ) cho các khu vực trên nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình thống nhất.

Đây thật sự là sáng tạo, là phương thức xác đáng, là công lao to lớn của Đặng Tiểu Bình, giúp Trung Quốc thống nhất trong hòa bình. Và cũng là một ví dụ kiểu mẫu cho việc giải quyết những vấn đề quốc tế” tương tự (Ảnh hưởng Trung Quốc sử 100 danh nhân, Vương Huệ Mẫn chủ biên, sđd ở Kỳ 9, tr. 70-71).

Tài liệu Tân Tử Lăng ghi lại phát biểu khá quan trọng của Đặng Tiểu Bình trong Hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng họp tại Thượng Hải 15.1.1993, rất thẳng thắn:

“Do những hạn chế của tình hình trong đảng và ngoài xã hội lúc đó (…) công lao và sai lầm của Mao Trạch Đông được đánh giá có phần không đúng sự thật lịch sử. Lịch sử do chúng ta tạo ra, không thể đảo ngược, không thể thay đổi. Vẫn có những cuộc tranh luận về sai lầm và công lao của Mao, tôi đã nói với các đồng chí Bành Chân, Đàm Chấn Lâm, Lục Định Nhất là ý kiến của các ông đúng, nhưng phải từ từ, xét tình hình, có thể đến đầu thế kỷ 21, để thế hệ sau đánh giá toàn diện. Công tội của Mao còn sờ sờ ra đó, không thể di dời, cũng không thay đổi được. Có người lo ngại đánh giá toàn diện Mao Trạch Đông sẽ dẫn đến việc phủ định công lao lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Quốc, làm hại vị trí lãnh đạo của Đảng. Tôi thấy chẳng có gì đáng ngại. Tôi kiến nghị có thể đánh giá toàn diện cuộc đời Mao Trạch Đông sau khi thế hệ chúng ta ra đi. Đến lúc ấy, môi trường chính trị có lợi hơn, những ý kiến cố chấp sẽ giảm bớt”…

Về công dựng nước của Mao Trạch Đông, Đặng nói “không thể phủ nhận”.

Về tội của Mao, Đặng nhắc: trong Đại cách mạng văn hóa Mao đã “cách chức, đánh đổ, thậm chí dồn vào chỗ chết khoảng trên 80% đảng viên chính trực”. Các nhà nghiên cứu thống kê “số người chết đói dưới thời Mao còn nhiều hơn tổng số người chết đói trong 2000 năm dưới mọi triều đại”.

Bộ Chính trị Đảng CSTQ trong hồ sơ giải mật gần đây, cho biết: “10 năm Đại cách mạng văn hóa có 100 triệu người bị đấu tố, 20 triệu người chết, lãng phí 800 tỷ nhân dân tệ. Theo lời Lý Tiên Niệm tại Hội nghị kế hoạch toàn quốc 20.12.1977 thì lãng phí và thất thu 1.300 tỉ nhân dân tệ (…) Đại tiến vọt và Đại cách mạng văn hóa là sự “phát triển ác tính” của chủ nghĩa xã hội bạo lực dưới thời Mao Trạch Đông”.

Như vậy, từ khi thành lập nước CHND Trung Hoa  năm 1949 đến khi Mao qua đời vào 1976, trong vòng 27 năm, Trung Quốc không có nội chiến lớn, không có thiên tai nghiêm trọng, mà do quốc sách sai lầm của Mao dẫn đến tổng số “trên 57,55 triệu người chết không bình thường, thiệt hại kinh tế 1.420 tỉ nhân dân tệ, trong lúc đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước trong gần 30 năm đó chỉ 650 tỉ nhân dân tệ”.

So sánh cho thấy Mao Trạch Đông đã thiêu sạch 2/3 khoản tiền vốn quý giá (lẽ ra có thể dùng để xây dựng đất nước và cải thiện đời sống nhân dân). Tân Tử Lăng nêu: “Tổng sản phẩm quốc dân của Mỹ năm 1960 nhiều hơn Trung Quốc 460 tỉ USD, đến 1980 con số này là 3.680 tỉ USD. Khoác lác vô biên “đuổi kịp Anh, vượt Mỹ” nhưng thực tế kết quả ngày càng tụt xa, “đại tiến” biến thành “đại thoái”. Lịch sử tuyên cáo đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa không tưởng tiêu biểu là 3 ngọn cờ hồng (Đường lối chung, Đại tiến vọt, Công xã nhân dân) của Mao Trạch Đông đã hoàn toàn phá sản”.

Mao biết Đặng Tiểu Bình là người đủ sức thông tuệ gỡ nước “cờ bí” cho mình, nhưng Giang Thanh lại tìm cách ngăn cản, do tầm nhìn của Giang ngắn hơn Mao nhiều. Mao nói thẳng mặt Giang: “cô ấu trĩ quá !”. Giang không hiểu cách “dụng nhân” thâm hậu của Mao, nên trong cuộc họp Bộ Chính trị 17.10.1974 đã sống sượng lên tiếng ép Đặng phải phê phán Chu Ân Lai. Đặng khẳng khái đập bàn, đứng dậy mắng Giang, đại ý: “Bộ Chính trị chứ có phải nhà bếp của bà đâu mà bắt người khác phải ăn những món độc hại theo khẩu vị của bà !”. Đây là cuộc xung đột đầu tiên với Giang kể từ ngày Đặng trở lại Bắc Kinh. “Gáo nước lạnh” tạt vào mặt Giang Thanh giữa ban ngày ấy, dẫn đến việc Đặng bị “bốn tên” vu cáo là đã âm mưu lật hồ sơ “chỉnh phong” mà Mao đang niêm kín…

Kỳ 30: Lật lại hồ sơ “chỉnh phong”

La Long Cơ, Phó Chủ tịch tổ chức Đồng minh dân chủ thời Mao Trạch Đông, nói: “Hiện nay ở Trung Quốc “tiểu trí thức” (ám chỉ Mao) đang lãnh đạo “đại trí thức” – người mù chỉ đường cho người sáng mắt” – khiến Mao nổi giận, đùng đùng mở cuộc đấu tố thảm khốc đối với hơn nửa triệu trí thức trên toàn quốc…


Đại nhảy vọt nhằm “tạo ra kỳ tích chấn động thế giới
trong thời gian ngắn” đã khiến Mao sai lầm và thảm bại

Thời kỳ đầu, giới trí thức đỗ đạt từ Âu Mỹ về muốn hợp tác với Mao. Họ đã được thông tin về hướng đi khá thông thoáng của Mao khi họ còn du học nước ngoài qua câu Mao trả lời với phóng viên hãng thông tấn Reuter:

– Nước Trung Hoa mới sẽ thực hiện chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn, ba nguyên tắc “dân có, dân trị, dân hưởng” của Lincoln, bốn tự do lớn của Roosevelt…

Tân Tử Lăng nhận định: “Chủ nghĩa dân chủ mới của Mao Trạch Đông mang đậm màu sắc tự do, trong thời gian ngắn đã lôi kéo được thế lực trung gian mở rộng do giai cấp tư sản dân tộc làm chủ thể, đây là nguyên nhân quan trọng khiến cách mạng Trung Quốc nhanh chóng giành được thắng lợi…”.

Nhưng không lâu trước “buổi bình minh”  của Đại tiến vọt, ánh “đèn pha đỏ” của Mao đã quét vào tận các góc tư duy sâu kín của họ, để lôi ra những “tư tưởng hữu khuynh” mà đấu đá.

Mở màn, Trung ương ĐCSTQ chính thức ra chỉ thị tiến hành chỉnh phong, chống bệnh bè phái quan liêu vào 4.1957. Mao gặp gỡ lãnh đạo của các đảng phái dân chủ và đại diện của giới trí thức trong nước yêu cầu họ thẳng thắn nêu ra những khuyết điểm hoặc sai lầm của mình để sửa chữa tốt hơn.

Mỗi tuần hai lần, Mao đòi Trưởng ban Mặt trận thống nhất trung ương Lý Duy Hán phải gặp mình để báo cáo về diễn tiến cuộc chỉnh phong. Lý Duy Hán phản ánh: La Long Cơ, Bộ trưởng Lâm nghiệp, đang là lãnh tụ tinh thần của giới trí thức từ Âu Mỹ về, đã nhận xét:

“Tiểu trí thức đang lãnh đạo đại trí thức của giai cấp tiểu tư sản” – khác nào người “sáng mắt” đang phải bước theo ngón tay chỉ đường của “người mù”. Câu ấy làm Mao giận sôi người, vì thâm ý của Mao là muốn thông qua cuộc vận động chỉnh phong đó để từng bước “xác lập vị trí lãnh đạo tư tưởng của mình trong giới trí thức, nhưng nay thấy họ khác công nông !”. Rõ ràng: “ Trong khi các lãnh đạo cấp cao đều coi Mao là nhà lý luận và nhà tư tưởng vĩ đại, thì họ lại coi ông là “tiểu trí thức”. Xem ra không thể làm cho những người này sùng bái mình. Thế là Mao quyết tâm đánh đổ những phần tử “đại trí thức” của giai cấp tư sản”.

Bên trong, Mao quyết dùng bạo lực dập tắt tiếng nói của họ, nhưng ngoài mặt vẫn khuyến khích mở thêm các cuộc tọa đàm, góp ý cho đảng, theo thủ đoạn “dụ rắn ra khỏi hang”. Phong trào chỉnh phong dần biến chất “không còn là thành tâm phát động quần chúng góp ý kiến cho đảng cầm quyền, mà là để theo dõi, trừng trị những quần chúng góp ý kiến và lùng bắt phái hữu trong số đó”.

Mãi khi Mao qua đời, hồ sơ “chỉnh phong” mới được lật lại, cho thấy con số thống kê chính thức số người bị “quy là phái hữu” và bị “đày đọa trong 20 năm trời” gồm 552.877 trí thức. Đến khi sửa sai (1980), sự thật chỉ có: “96 người thật sự là “phái hữu” chiếm 1,8 phần vạn – nghĩa là trong một vạn người chưa đến 2 người” – số còn lại đều bị oan.

Động cơ Giang Thanh nhắc đến hồ sơ “chỉnh phong” là để tấn công Đặng Tiểu Bình – ghép Đặng vào “phái hữu”. Duyên do có liên quan đến vụ tàu Phong Khánh:

Nguyên vì: Chu Ân Lai chủ trương phát triển vận tải đường biển “đóng tàu đồng thời với mua tàu” – được Mao tán thành ứng dụng từ năm 1964. Đến 10 năm sau (9.1974) lần đầu tiên Trung Quốc đóng được tàu vận tải viễn dương Phong Khánh 10.000 tấn chạy thử, đủ sức vượt đại dương. Nắm cơ hội này, Giang Thanh (cùng Diêu Văn Nguyên) ra sức thổi phồng thành công, xuyên tạc chủ trương của Chu Ân Lai “đóng thuyền không bằng mua thuyền, mua thuyền không bằng thuê thuyền” và rêu rao chủ trương ấy xuất phát từ tư tưởng “nô lệ nước ngoài”. Quá quắt hơn, Giang Thanh còn đòi Bộ Chính trị có biện pháp với Chu.

Đặng Tiểu Bình chống lại, mỉa mai : “Giang Thanh mượn sự kiện tàu Phong Khánh để “ra sức huênh hoang, phê phán Chu Ân Lai sùng bái phương Tây” và “mới đóng được tàu một vạn tấn đã làm rùm beng khắp nơi – năm 1920, tôi đã sang Pháp trên con tàu  mấy vạn tấn kia”. Tàu bưu chính André Lebon của Pháp rốt cuộc trọng tải mấy vạn tấn, chưa ai xác minh. Nhưng câu nói trên đủ chứng tỏ lần đầu tiên tiếp xúc với lực lượng phát triển của chủ nghĩa tư bản đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với Đặng Tiểu Bình. Dĩ nhiên, chỉ sau 5 năm sống ở nước Pháp (cùng Chu Ân Lai), Đặng Tiểu Bình mới hiểu rõ thêm chủ nghĩa tư bản (Nhiếp Nguyệt Nham, Đặng Tiểu Bình giữa đời thường – sđd Kỳ 28, tr. 36)…

Còn Mao ? “Cả đời Mao chưa hề đến với thế giới tư bản chủ nghĩa, chưa nhìn thấy phương thức sản xuất quy mô lớn và nền văn minh vật chất của chủ nghĩa tư bản. Ông chưa chuẩn bị đầy đủ về lý luận cho xây dựng kinh tế”. Mao đã “phê phán khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa (…) Trong lĩnh vực kinh tế, khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa (tức là những nỗ lực của mọi người theo đuổi làm nhiều hưởng nhiều, phát tài làm giàu) là “linh hồn sống” của lực lượng sản xuất tiên tiến. Diệt linh hồn này thì không bao giờ có lực lượng sản xuất tiên tiến. Muốn giàu lên phải khôi phục danh dự “khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa” bị phê phán bao nhiêu năm nay. “Cáp tiên diệt phú” (không cho ai giàu lên trước) là tử huyệt của chủ nghĩa xã hội bạo lực, là nguồn gốc khiến Mao thất bại trong lãnh đạo kinh tế” – Tân Tử Lăng.

Thêm nữa, động cơ cá nhân muốn làm “lãnh tụ cộng sản quốc tế”nên phải tìm cách “tạo ra kỳ tích chấn động thế giới trong thời gian ngắn”, làm Mao vội vã, sai lầm và thảm bại. Người ta đã ví tham vọng của Mao chẳng khác nào ý muốn hoang tưởng của Đông Phương Bất Bại – giáo chủ Ma giáo – một nhân vật trong tiểu thuyết Kim Dung mà ngay cái tên “bất bại” đã nói lên y là người “không chịu thua ai” – hằng ngày bắt đồ chúng quỳ trước mặt mình, xưng tụng:

Giáo chủ văn thánh, võ đức. Thiên thu trường trị nhất thống giang hồ !

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s