Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 16

Kỳ 16: Lâm Bưu – phút cuối đời và “con số 13” định mệnh
Kỳ 17: Mổ bụng tượng Phật tìm vàng
Kỳ 18: Lên núi Nguyệt Luân viết tình sử

Kỳ 16: Lâm Bưu – phút cuối đời và “con số 13” định mệnh

Giao Hưởng – Đăng Bởi Một Thế Giới – 06-07-2014

Trong cuộc điện đàm cuối cùng và chớp nhoáng với Thủ tướng Chu Ân Lai lúc gần mười hai giờ khuya 12.9.1971, bà Diệp Quần nói bà sẽ cùng nguyên soái Lâm Bưu rời khỏi Bắc Đới Hà vào sáng hoặc chiều hôm sau vì thời tiết ở đó “bắt đầu lạnh rồi”…


Hai vợ chồng Diệp Quân và Lâm Bưu chết thảm trên đường chạy trốn

Bà nói sẽ bay đến thành phố cảng Đại Liên nằm trên tuyến đường biển xinh đẹp ở phía Nam bán đảo Liêu Đông. Thành phố này nổi danh từ lâu bởi nguồn dự trữ kim cương lớn nhất nước, với bãi tắm Dục Trường hình vòng cung, nước xanh phẳng lặng. Độc đáo ở đó có “vương quốc rắn” không có người ở (đảo Tiểu Long Sơn), với ít nhất 14.000 con rắn cực độc phủ đầy trên các cành cây, bò khắp bờ suối, hốc hang – được xếp hạng “khu bảo tồn thiên nhiên” trọng điểm của Trung Quốc. Một số cảnh vệ cùng nhân viên phục vụ trong nhà cũng hay tin họ Lâm sắp đi Đại Liên. Nên khi tham mưu cảnh vệ Lý Văn Phổ ngồi bên tài xế trên chiếc xe Hồng Kỳ đang phóng hết tốc lực một cách bất thường, đinh ninh chuyến này mọi người sẽ đến Đại Liên, chợt nghe Lâm Bưu hỏi Lâm Lập Quả: “Đến Irkutsk còn bao xa?” Lý Văn Phổ liền lớn tiếng hét dừng xe: “lái xe phanh lại theo thói quen. Lý nhảy xuống, hỏi: Các người  muốn đưa thủ trưởng Lâm đi đâu? Lâm Lập Quả rút súng bắn luôn. Chiếc xe lại lao vút lên như điên, đến sân bay Sơn Hải Quan lúc 0 giờ 18 phút ngày 13.9.1971 – 14 phút sau, chiếc Trident 256 chở đoàn Lâm Bưu do Phan Cảnh Diễn điều khiển cất cánh bay về hướng Irkutsk, trong tình trạng không có lái phụ, hoa tiêu và nhân viên báo vụ” – theo Tân Tử Lăng.


Mao Trạch Đông và Lâm Bưu

Nhận báo cáo khẩn cấp từ sân bay Sơn Hải Quan, Thủ tướng Chu Ân Lai lệnh cho Sở chỉ huy Không quân dùng đài đối không liên lạc, yêu cầu Phan Cảnh Diễn hãy bay trở lại và thông báo Diễn có thể cho máy bay hạ cánh an toàn xuống sân bay Bắc Kinh hoặc Tây Giao, nhưng không thấy Diễn đáp ứng. Bộ tư lệnh Không quân báo về Trung Nam Hải xin ý kiến để máy bay tiêm kích bay lên đuổi theo chặn đường Lâm Bưu. Nhưng Mao Trạch Đông bảo:

“Lâm Bưu vẫn là Phó Chủ tịch đảng ta, trời mưa là việc của trời, con gái lớn lên thì đi lấy chồng, cứ để Lâm muốn bay đi đâu thì bay” – không cần đuổi bắt.

Máy bay Lâm Bưu thoát về hướng Tây Bắc nhưng vẫn bị các trạm radar dưới đất theo dõi “ra khỏi biên giới quốc gia lúc 2 giờ sáng, bay vào địa phận nước Cộng hòa nhân dân Mông Cổ, trên màn hình radar của ta mất mục tiêu. Đây là thời gian chúng ta lo lắng nhất. Chiều hôm đó đại sứ quán Trung Quốc tại Mông Cổ báo tin về một chiếc máy bay hàng không dân dụng chở khách bị rơi tại khu vực miền Đông Mông Cổ, trên máy bay có 8 nam một nữ, tất cả đều thiệt mạng, máy bay mang số hiệu 256” – theo Trần Trường Giang.

Sách báo Trung Quốc đến nay khi nhắc sự kiện ấy đều có những thông tin tương tự nhau, đại ý: “3 giờ sáng 13.9, chiếc máy bay Trident số hiệu 256 của Hàng không dân dụng Trung Quốc bị rơi tại tỉnh Chentij gần Underkhan Mông Cổ, cả 9 người trên máy bay đều chết. Sau qua giám định được biết 9 người trên gồm: Lâm Bưu, Diệp Quần, Lâm Lập Quả, Lưu Bái Phong, cùng phi công, lái xe và 3 kỹ sư cơ khí”.

Ở Bắc Kinh, gần sáng 13.9, đã có lệnh bắt giữ các thành viên trong tổ chức đối kháng của Lâm Bưu như: Hoàng Vĩnh Thắng (Tổng tham mưu trưởng Quân đội), Ngô Pháp Hiến (Tư lệnh Không quân), Lý Tác Bằng (Chính ủy Hải quân) giam lỏng tại Đại lễ đường – yêu cầu tất cả không ai được ra ngoài, không gọi điện thoại, chờ xử trí. Một số khác tìm cách trốn đi “Bộ Tư lệnh Không quân báo cáo: chiếc máy bay lên thẳng số 3685 bay khỏi sân bay Sa Hà, trên máy bay có Chu Vũ Trì (Phó Chủ nhiệm Văn phòng Không quân), Vu Tân Dã, Lý Vĩ Tín, lái chính Trần Văn Tu, lái phụ Trần Sĩ Ấn. Trần Văn Tu không làm theo lệnh của các thành viên Hạm đội liên hợp, cho máy bay vòng lại, hạ cánh xuống một hẻm núi ở ngoại thành Bắc Kinh. Chu Vũ Trì nổ súng bắn chết Trần Văn Tu, Trần Sĩ Ấn nằm im vờ chết. Ba thành viên còn lại của Hạm đội liên hợp hẹn nhau cùng tự sát. Chu Vũ Trì và Vu Tân Dã chết ngay. Lý Vĩ Tín bắn chỉ thiên, bị bắt”.

Sáng sớm 13.9, Thủ tướng Chu Ân Lai thực hiện ủy thác của Mao Trạch Đông triệu tập Bộ chính trị thông báo việc Lâm Bưu chạy trốn và đích thân gọi điện tới lãnh đạo các đại quân khu, thành phố, khu tự trị, yêu cầu họ báo cáo tình hình, bố trí lực lượng đề phòng những biến cố đột phát. Chiều 14.9, Chu Ân Lai mặc áo trắng quần xám vào phòng 118 ở Đại lễ đường, trình Mao Trạch Đông báo cáo chính thức của Đại sứ quán Trung Quốc tại Mông Cổ về “kết thúc bi thảm của nhà họ Lâm”.

Một điều hơi lạ và ngồ ngộ là chỉ trong chưa đầy 6 tháng cuối đời (từ tháng 3 – 9.1971), Lâm Bưu gắn liền với một loạt  “con số 13” trong các hoạt động của mình:

–     Kế hoạch mưu sát Mao Trạch Đông mang mật số : 571 (5+7+1 = 13)

–     Máy bay chở Lâm Bưu và vợ con của ông về cõi chết mang số: 256 (2+5+6 = 13)

–     Ngày máy bay rơi là ngày 13 (tháng 9.1971) – đối chiếu với âm lịch nhằm ngày của saoNguy (trong Nhị thập bát tú): 24.7 (2+4+7 = 13) năm Tân Hợi…

Kỳ 17: Mổ bụng tượng Phật tìm vàng

Người ta có dịp cảm nhận mùi vị của “vô thường” qua một vài hình ảnh hiếm hoi chụp chiếc máy bay chở Lâm Bưu bị rơi, tan nát từng mảng, xác chết nằm dưới đất cháy đen và biến dạng không nhận ra được là ai …


Mao Trạch Đông và Giang Thanh
– hai nhân vật chính phát động cuộc Cách mạng Văn hóa

Thật khác hoàn toàn với hình ảnh của Lâm Bưu vào 5 năm trước đó, ngày 18.8.1966, đứng cạnh Mao Trạch Đông trước hơn một triệu dân chúng Bắc Kinh trong tiếng nhạc “Đông phương hồng”. Nhạc dứt, Lâm Bưu đọc diễn văn mở đầu cách mạng văn hóa, với những lời lẽ cứng rắn, hiệu triệu:

Mao Chủ tịch chủ trương phát động Đại cách mạng văn hóa của giai cấp vô sản, là một việc làm vĩ đại chưa từng có (…).Chúng ta cần phải phá tan tất cả tư tưởng của giai cấp bóc lột, phá tan văn hóa cũ, tập quán cũ, phong tục cũ (…), cần quét sạch bọn sâu mọt hại dân, gạt bỏ tảng đá ngáng đường sang một bên !.

Có mặt ở lễ đài Thiên An Môn lúc đó, vệ sĩ Trường Giang nhận xét: “giọng nói the thé của Lâm Bưu sặc mùi thuốc súng”. Để rồi cả triệu Hồng vệ binh bị kích động tràn khắp các thành phố biểu dương lực lượng và đập phá không nương tay. Sách báo Trung Quốc nêu nhiều con số được giải mật đáng sợ: ngay giữa Bắc Kinh, Hồng vệ binh phá hoại 4.922 trong số 6.843 di tích cổ, tràn vào lục soát 11,4 vạn nhà, truy tìm “tàn dư văn hóa cũ”, thẳng tay châm lửa đốt hàng vạn cuốn sách do nguyên bộ trưởng Nguyên Bá Chương sưu tập. Bọn họ xâm nhập cả vào Khổng miếu, đòi san bằng mộ địa của Khổng Tử nằm ở ngoại ô phía bắc thành phố Khúc Phụ, dám hạ cả tượng Khổng Tử xuống và triệt bỏ một số văn bia. Nhiều lăng mộ của tiền nhân từ Thành Cát Tư Hãn đến Chu Nguyên Chương, từ Ngô Thừa Ân đến danh họa Từ Bi Hồng – bị bôi nhọ hoặc xâm hại tùy thích.

Nếu giữa thủ đô Hồng vệ binh bắt đầu “hoạt động cách mạng” bằng việc đập phá tượng Thích-ca Mâu-ni đặt trên Phật Hương Các tại Di Hòa Viên thì tiếp đó lan rộng cả nước, tới cả Khu tự trị Tây Tạng. Sáp nhập Trung Quốc vào đầu thập niên 1950 và chính thức trở thành Khu tự trị của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 1965, Tây Tạng phải hứng chịu cơn lốc cách mạng văn hóa cuốn tới sau đó không lâu. Phần phụ lục cuốn Con đường mây trắng, nguyên tác của Anagarika Govinda, Nguyễn Tường Bách dịch (NXB Trẻ, TP. HCM 2001), có đoạn:“Cách mạng Trung Quốc năm 1966, Hồng vệ binh (Red Guard) đã phá hủy khoảng 2.700 ngôi đền (…). Tu viện Tsaparang cũng như số phận của các tu viện chùa chiền tại Trung Quốc và Tây Tạng phải chịu sự hủy phá do con người gây ra”. Nhiều tranh tượng do Govinda mô tả trong tác phẩm của mình những năm trước cách mạng văn hóa nay đã mất hẳn hoặc hư hại sau thảm kịch đó: “các tượng Phật đã bị hủy hoại nhiều, tượng nào cũng bị mổ ngực, mổ bụng vì người ta hy vọng tìm thấy vàng bạc trong đó”. Nguyễn Tường Bách dẫn chứng “tượng Đại Nhật Phật – còn có tên là Tì-lô-giá-na (Vairocana) trong đền thờ màu trắng của tu viện Tsaparang đã bị con người mổ ngực tìm vàng. Hình tượng này (Pháp thân) một mặt biểu hiện trình độ nghệ thuật xuất sắc của nghệ nhân Tây Tạng ngày xưa, mặt khác cho thấy sự thô bạo của con người thời nay”. Trung Quốc là nơi Phật giáo có mặt từ đầu công nguyên, thời Hán Minh đế, với ngôi chùa được xây đầu tiên: Bạch Mã và có cả thời hoàng kim dưới triều đại nhà Tùy (581-618), nhà Đường (618-907). Và chính Trung Quốc lần đầu tiên du nhập Phật pháp vào Tây Tạng qua sự kiện:

Vua Đường Thái Tông gả công chúa Văn Thành cho Tùng Tán Can Bố. Ngày về nhà chồng, công chúa Văn Thành đã mang theo một tượng Phật đến triều đình Tây Tạng và đó là tượng Phật đầu tiên an vị tại Tây Tạng. Đến thời hiện đại, cuộc “đại cách mạng văn hóa” quay lưng với quá khứ, đập phá tượng Phật, triệt hạ chùa chiền theo chủ trương Mao Trạch Đông và hai lãnh đạo hàng đầu của “đại cuộc” : Lâm Bưu và Giang Thanh.

Phần Giang Thanh, ở độ tuổi thanh xuân cũng có chút “duyên” đến với Phật đài.

Nguyên trước ngày làm vợ Mao Trạch Đông, Giang Thanh đã chìm đắm trong một cuộc tình lãng mạn vào năm 22 tuổi (1936) và cùng người yêu của mình (Đường Nạp) hẹn nhau lên núi Nguyệt Luân bên sông Tiền Đường thề trọn đời yêu nhau trước tháp Phật Lục Hòa. Cuốn Bốn người vợ của Mao Trạch Đông (sách đã dẫn ở Kỳ 1) viết: “Hồi đó (1935) Đường Nạp đang làm việc cho tờ “Đại công báo” kiêm biên tập tạp chí và đạo diễn cho Công ty ảnh nghiệp Điện Thông, là một nhà bình luận đẹp trai, đa tình. Khi xem Lam Bình (tức Giang Thanh) biểu diễn, Đường Nạp quá mê phong cách của thị, đã đem lòng thầm yêu “kẻ phản nghịch xinh đẹp” đó. Còn Lam Bình thì vô cùng hâm mộ chàng tài tử sành điệu mà về địa vị xã hội,văn hóa, kinh tế.. mặt nào cũng đều ăn đứt Lam Bình. Cả hai người chẳng bao lâu đều đắm đuối trong dòng sông ái và thế là họ cưới nhau”…

Kỳ 18: Lên núi Nguyệt Luân viết tình sử

Vì sao nói: Giang Thanh thời đang yêu, ở lứa tuổi hai mươi đã dám “lên núi giỡn trăng, xuống hồ khuấy nước”?


Đám cưới của Giang Thanh và 2 cặp tài tử khác
trên núi Nguyệt Luân – Ảnh: TL

“Lên núi” nào ? Nguyệt Luân.

So với nhiều danh sơn khác, núi Nguyệt Luân không cao và hình dáng cũng chẳng đặc sắc hơn mấy. Tuy vậy, cái tinh hoa kỳ đặc của một ngọn núi không hẳn phải luôn luôn lồ lộ ra ngoài, trái lại lắm khi tiềm ẩn bên trong.

Như trường hợp Cửu Long Sơn “tuy không cao nhưng thẳng đứng, không nghiêng lệch, dốc mà không hiểm, giống như một vị quân tử đứng giữa trời đất uy nghiêm” – không lộ sắc giận mà người khác vẫn sợ. Vẻ kỳ bí ấy được khám phá bởi “cặp mắt rất lợi hại” của Phong thủy đại sư Lưu Bá Ôn: “Trên lưng ngọn Cửu Long Sơn có lõm xuống một vùng đất rộng (…) linh khí của toàn long mạch đều tập trung nơi đây”.

Đứng trước vách đá cao, nằm lưng chừng sườn núi, Lưu Bá Ôn đưa tay chỉ cái hang nhỏ: “Hang này nằm đúng cái rún của tổ rồng, long khí chí cường”nên những con chồn bắt gà rừng đem đến cất ở đó, dầu lâu ngày vẫn không bị hư thối, “mùi vị lại cực ngon chính là do nguyên nhân long khí đã ướp chúng để không còn là thực phẩm trần gian” mà trở thành dưỡng chất của bậc tiên gia.

Có người thử vận hết thần công lực vỗ ra một chưởng đánh vào cửa hang, với sức mạnh của chưởng lực “ngay cả một con trâu lớn cũng bị đánh nát” – nhưng cửa hang nhỏ bé sơ sài đầy cỏ dại kia vẫn không bay mất một hạt bụi. Ngược lại, người tung chưởng “bị hút vào hang, toàn thân mềm nhũn” – theo Phong thủy đại sư Lưu Bá Ôn, nguyên tác Tiêu Hiển, NXB Thanh Hải – Trung Quốc, Anh Vũ và Kim Đồng dịch, NXB Văn hóa Thông tin – Hà Nội 2002, tập II, trang 1910-1914.

Tuy không vào hàng phong thủy vang danh như Cửu Long Sơn, nhưng Nguyệt Luân là sơn địa “long xà” của Phật pháp. Theo Phật Quang đại từ điển (do Hội Biên tu Phật Quang Sơn, Đài Loan biên soạn) và Từ điển Phật học Huệ Quang (Hòa thượng Thích Minh Cảnh chủ biên, NXB Tổng hợp TP.HCM 2003-2005), thì trên núi Nguyệt Luân có ngọn tháp cao 64m, bên trong đặt tấm bia khắc kinh Kim Cương, nay vẫn đứng giữa gió trời lồng lộng như đã đứng tự tại vô ngại suốt hơn 1.000 năm qua (xây năm 970).

Núi có tên Nguyệt Luân – tức Mặt trăng; vì mặt trăng (nguyệt) tròn như bánh xe (luân) nên ghép gọi như thế – thông nghĩa với từ “Nguyệt Luân quán” là một trong những phép quán cơ bản của Mật tông. Muốn thực hành phép quán này, trước tiên hành giả “vẽ một vòng tròn (tựa mặt trăng ngày rằm) đường kính một khuỷu tay, trong vòng tròn vẽ hoa sen trắng 8 cánh (hoặc vẽ vầng trăng trên hoa sen), trên hoa sen vẽ một chữ “A” màu vàng, rồi ngồi kiết già, mặt đối diện với hình vẽ, hai tay bắt ấn, quán tưởng tâm mình cũng như vầng trăng ấy (…) và như ánh trăng vàng chiếu khắp hư không mà không hề có phân biệt” – Từ điển Phật học Huệ Quang, tập III, tr. 3075.

Giang Thanh lên núi ấy tạm nói ví von giống như “cọp về rừng”.

Vì, nhắc lại, Giang Thanh tuổi Giáp Dần (sinh 1914), mạng Đại khê thủy tức “dòng suối lớn” (khác với Giản hạ thủy là con suối nhỏ). Cầm tinh con cọp, với vận số “lập định chi hổ” (cọp có thế đứng vững chãi) và lại là con cọp đang “đói” tình yêu, nên đã cõng “miếng mồi ngon” Đường Nạp lên tận đỉnh Trăng tròn (Nguyệt Luân) để hẹn thề. Dù nền học vấn của Đường Nạp khá vững (từ cửa Đại học Saint John’s Thượng Hải bước ra) nhưng anh quên mất một lẽ thường nhân thế: “họa hổ họa bì nan họa cốt – tri nhân tri diện bất tri tâm”, nghĩa nôm na: vẽ con hổ dễ vẽ màu da bên ngoài của nó (họa bì) chứ không sao vẽ xương nó được (họa cốt). Cũng vậy, biết người biết mặt (tri nhân tri diện) chứ không thể đo lòng dạ của người ấy (bất tri tâm).

Nữ hổ Giang Thanh bề ngoài rất xinh đẹp, ứng xử khá thông minh, danh tiếng lớn hơn nhiều so với tuổi đời của cô lúc ấy (năm 1936, 22 tuổi), nhưng Giang Thanh có trái tim quá đỗi lãng mạn, thành nghệ sĩ điển hình của “đợt sóng mới” đương thời, sống và yêu không cần hôn thú. Cô trách người yêu:

– Sao anh cứ đòi cưới tôi? Suy nghĩ của anh về hôn nhân quá hẹp, không còn hợp thời nữa. Đã sống chung với nhau thế này là đã yêu nhau rồi, cần gì làm lễ cưới thêm phiền phức.

Tuy vậy, trước ngày xa Đường Nạp, Giang Thanh chấp thuận làm lễ thành hôn trên đỉnh Nguyệt Luân, như cuốn Bốn người vợ của Mao Trạch Đông viết: “Năm 1936, vào mùa xuân, ba cặp tình nhân thuộc lớp nghệ sĩ mới ở Thượng Hải là Lam Bình (nghệ danh của Giang Thanh) và Đường Nạp, Triệu Đan và Diệp Lộ Xuyến, Cố Nhi và Đỗ Lộ Lộ, đã cùng nhau tới tháp Lục Hòa (núi Nguyệt Luân) ở Hàng Châu làm đám cưới tập thể. Luật sư Thẩm Quân Nho đứng ra làm chứng cho đám cưới ba cặp đó. Trong ba cặp, chỉ duy nhất có Lam Bình và Đường Nạp là không cần giấy hôn thú vì Lam Bình cho rằng: nếu không vì tình yêu thì hôn thú chẳng qua cũng chỉ là thứ vô dụng”.

Nhưng rồi – tấm chăn hạnh phúc vốn đã không được rộng, thế mà Giang Thanh chẳng những kéo đắp nhiều về phía mình, lại còn nỡ “đắp” thêm cho người tình khác nữa, làm Đường Nạp đương nhiên bị lạnh, cô độc buồn thương nhảy xuống sông Hoàng Phố tự vẫn.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s