Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 13

Kỳ 13: Mao Trạch Đông 3 lần thoát chết trên đường tàu
Kỳ 14: Lâm Bưu lập “trung ương riêng” ở Quảng Châu
Kỳ 15: Chu Ân Lai – mệnh lệnh lúc 0 giờ

Kỳ 13: Mao Trạch Đông 3 lần thoát chết trên đường tàu

Giao Hưởng – Đăng Bởi Một Thế Giới – 02-07-2014

Trong vòng ba ngày (từ 10 – 13.9.1971), Mao Trạch Đông đã ba lần thoát khỏi hiểm họa chết người trên đoạn đường tàu từ Thượng Hải đến Bắc Kinh do “người bạn chí cốt” của ông là Phó thống soái Lâm Bưu giăng sẵn…


Lâm Bưu (đọc diễn văn) và Mao Trạch Đông (bìa phải)
trong những ngày còn “cướp diễn đàn cứu giá”

Thật ra Vương Duy Quốc không thể tiếp cận để “ngồi trước mặt” Mao Trạch Đông được. “Buổi ăn trưa” trên chuyên xa hôm 11.9 cũng bị bãi bỏ. Hồi ức của Uông Đông Hưng, Chỉ huy trưởng lực lượng bảo vệ ưu tú của Mao Trạch Đông (Trung đoàn đặc nhiệm 8341) và của Trường Giang, Chỉ huy phân đội đặc biệt luôn túc trực cạnh Mao Trạch Đông suốt chuyến hành trình, đã kể lại khi đoàn tàu chở Mao Trạch Đông đến Thượng Hải tối 10.9.1971, Mao Trạch Đông sai bí thư của mình gọi điện thoại cho Hứa Thế Hữu, Tư lệnh Đại quân khu Nam Kinh, đến gặp gấp vào sáng hôm sau 11.9…

Hứa Thế Hữu đáp máy bay trực thăng từ Nam Kinh bay thẳng đến Thượng Hải, lên chuyên xa gặp Mao Trạch Đông, bàn bạc việc gì đó lâu lắm. Trường Giang kể: “Đã đến lúc ăn cơm trưa,Mao Chủ tịch không giữ Hứa Thế Hữu ở lại ăn cơm, còn nói: “Chú tự ăn nhé!”. Khi ra về Hứa Thế Hữu nói thêm một câu: “Xin Chủ tịch yên tâm (…) chúng tôi đã chuẩn bị chu đáo rồi”.

Vậy hôm ấy không có chuyện “ăn trưa” trên chuyên xa và cũng không có chi tiết Vương Duy Quốc có thể “ngồi trước mặt” Mao Trạch Đông để thực hiện “kế hoạch 571” của Lâm Bưu được. Tân Tử Lăng giải thích: “Vương Duy Quốc nhận nhiệm vụ mưu sát Mao, y giấu súng ngắn trên xe hình như bị phát giác; nên không được tiếp cận chuyên xa”!.

Trước đó, những “sát thủ” của Lâm Bưu tại Thượng Hải đã vạch thêm một phương án khác (ngoài cách bố trí để Vương Duy Quốc bắn trực tiếp), là:

“Trong trường hợp chuyên xa dừng ở sân ga chuyên vận Ngô Gia gần sân bay Hồng Kiều (Thượng Hải), sẽ đặt bom làm nổ tung kho xăng dầu nằm cách đó hơn 100 mét, lợi dụng lúc khói lửa bốc lên mù mịt sẽ nhào đến tấn công chuyên xa và “thanh toán” gọn Mao Trạch Đông”.

Đúng là chuyên xa đã dừng lại sân ga Ngô Gia. Song “đội hành động 571” của Lâm Bưu không dễ ra tay theo dự tính, là vì – như Trường Giang (vệ sĩ theo suốt cuộc tuần du để bảo vệ Mao Trạch Đông) ghi rõ:

“Khoảng 18 giờ cùng ngày (10.9), đoàn tàu di chuyển thuận lợi tới ga chuyên vận Ngô Gia ở gần sân bay Hồng Kiều (Cầu Vồng) của Thượng Hải (…) Uông Đông Hưng yêu cầu chúng tôi cảnh giới nghiêm ngặt chung quanh đoàn tàu, tại vị trí trọng điểm bố trí 2 vọng gác tăng cường cán bộ trực ban. Chiếu theo yêu cầu của Ưng Đông Hưng, cùng một lúc chúng tôi tăng cường 5 vọng gác, còn thành lập tổ ba người trang bị  súng tiểu liên tuần tra lưu động”.

Trong số 5 vọng gác ấy có một vọng gác đặt ngay tại kho xăng dầu cách chuyên xa không xa, nên “đội hành động 571” khó mà lọt vào để đặt bom. Tuy vậy đội “hành quyết” nghĩ rằng họ còn có thời gian để thực hiện nhiệm vụ “ám sát B.52 (tức Mao Trạch Đông)” theo lệnh Lâm Bưu và Lâm Lập Quả. Vì Mao Trạch Đông ít nhất cũng ở lại Thượng Hải vài ngày theo lệ thường đã có của ông suốt 20 năm qua. Nhưng họ đã lầm. Bởi bất ngờ, Mao Trạch Đông bỏ thông lệ, ra lệnh cho đoàn tàu tăng tốc rời khỏi Thượng Hải lúc 13 giờ 12 phút hôm ấy 11.9 (không lâu sau khi đã bàn xong “chuyện gì đấy” với Tư lệnh Hứa Thế Hữu, không mời cơm trưa và tiễn Tư lệnh xuống tàu).

Lệnh khởi hành không báo trước với bất cứ ai trong ban lãnh đạo Thượng Hải. Đó là điều bất thường. Bất thường nữa là việc Mao Trạch Đông lệnh Uông Đông Hưng và Trường Giang tăng cường “cảnh giới nghiêm ngặt” suốt thời gian tàu dừng ở đó (chỉ một đêm) và ông không hề bước xuống sân ga như các chuyến đi trước. Mao Trạch Đông đã phát giác âm mưu của Lâm Bưu?

Không. Lúc đó ông chưa biết rõ “kế hoạch tuyệt mật 571” của Lâm Bưu. Nhưng cách đó một ngày, khi còn ở Hàng Châu trên lầu số 1 của Lưu Trang (cạnh Tây Hồ), ông đã được một “nhân viên phục vụ” mật báo trực tiếp bằng miệng với mình: “Có người chuẩn bị máy bay, có người còn chỉ trích đoàn tàu chở Mao Chủ tịch dừng trên trục đường sân bay Kiển Kiều gây “trở ngại” cho “người bộ hành”, hãy nhanh chóng rời khỏi nơi đây”.

Bằng trực quan lịch lãm và kinh nghiệm cảnh giác khác thường, Mao Trạch Đông tự “giải mã” mật khẩu trên, đã tức tốc ra lệnh rời khỏi nơi đang ở, mặc dù đang giữa 12 giờ trưa, lúc nhiều người trong đoàn đang ngủ. Hoặc đang tắm, quần áo phơi chưa khô, cũng phải dùng áo đi mưa bọc lại mang theo. Tất cả yên lặng rời Lưu Trang ngay để lên tàu theo lời dặn của Mao Trạch Đông:

– “Không được báo cho Trần Lê Vân và bọn họ biết, cũng không cần họ đưa tiễn”. Trần Lê Vân là Chính ủy Quân đoàn 5 Không quân, nằm trong cuộc vận động của Lâm Bưu thành lập:“Hạm đội liên hợp” (do Lâm Lập Quả làm Tư lệnh) lúc ấy đang cùng “một số lãnh đạo của quân khu tỉnh Triết Giang cũng đang ở một tòa nhà nằm trong quần thể kiến trúc của Lưu Trang gần chỗ của Mao Trạch Đông” – theo Trần Trường Giang. Tàu rời Hàng Châu đến Thượng Hải, lại rời Thượng Hải về Bắc Kinh, gấp gáp như đã viết ở trên.

Lúc này, “bộ tư lệnh” của Lâm Bưu đang theo dõi sát sao lịch trình chuyển dịch của Mao Trạch Đông trên đường tàu và đã triển khai “kế hoạch 571” đưa lực lượng xung kích của “Hạm đội liên hợp” đến xem xét địa hình đặt chất nổ dưới chân cầu Thạc Phóng nhằm đánh sập cầu này khi chuyên xa của Mao Trạch Đông rời Thượng Hải chạy ngang qua đó…

Kỳ 14: Lâm Bưu lập “trung ương riêng” ở Quảng Châu

Lâm Bưu tuyên bố với thuộc hạ: Ai giết Mao Trạch Đông và hoàn thành nhiệm vụ của mình được giao theo “kế hoạch 571” đều là khai quốc nguyên huân (người có công đầu) của nền “đệ nhị Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” do Lâm khai sáng!


Lâm Bưu và Mao Trạch Đông nồng ấm
ở đại hội 9 Đảng CS Trung Quốc (ảnh: Tân hoa xã)

Được Phó thống soái hứa hẹn, kích động, những sĩ quan có trách nhiệm theo dõi chuyến tuần du của Mao Trạch Đông đã không rời mắt khỏi đường tàu cũng như những nơi Mao Trạch Đông dừng nghỉ. Họ thu thập tin tức mới nhất gởi về “bộ tư lệnh tối cao” của Lâm Bưu đang đặt tại một biệt thự ở Bắc Đới Hà. Qua đó, Lâm Bưu và phu nhân Diệp Quần, cùng con trai Lâm Lập Quả và các tham mưu lọc ra những điều cần thiết giúp họ đi đến các quyết định cơ mật của cuộc đảo chánh và mưu sát Mao, nhất là nội dung các cuộc đàm thoại giữa Mao Trạch Đông với Hoa Quốc Phong (Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Hồ Nam), Lưu Kiên Huân (Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Hà Nam), Đinh Thịnh (Tư lệnh Đại quân khu Quảng Châu), Lưu Hưng Nguyên (Chính ủy Đại quân khu Quảng Châu), Hàn Tiên Sở (Tư lệnh Đại quân khu Phúc Châu); Trình Thế Thanh (Chủ nhiệm Ủy ban cách mạng Giang Tây)… Trong các cuộc tiếp xúc trên, Mao lên tiếng phê phán Lâm Bưu đang tập hợp lực lượng ngấm ngầm chống lại Mao, không chỉ bằng thái độ nhất thời, mà có cả “cương lĩnh và tổ chức” lâu dài. Nhằm giải quyết “vấn đề Lâm Bưu”,Mao Trạch Đông thông báo:

– Sắp tới tôi định sẽ về Bắc Kinh ngày 23.9 và sẽ triệu tập Hội nghị trung ương từ ngày 25.9 đến 29.9, nêu rõ những sai lầm của Lâm Bưu.

Mao còn nói tại Hội nghị ấy sẽ cử người khác thay Lâm Bưu làm Phó chủ tịch đảng. Nội dung một bản mật báo dày 16 trang do Cố Đồng Chu, Tham mưu trưởng Không quân Quảng Châu, cung cấp đến Chu Vũ Trì, Phó chủ nhiệm Văn phòng Không quân ở Bắc Kinh ghi rõ những đàm thoại trên. Chu Vũ Trì lập tức đáp máy bay đến biệt thự ở Bắc Đới Hà trao tận tay Lâm Lập Quả.

Cùng thời điểm, bản mật báo khác từ “nguồn”  của Lưu Phong (Chính ủy Đại quân khu Vũ Hán), gởi đến Hoàng Vĩnh Thắng (Tổng tham mưu trưởng Quân đội – người của Lâm Bưu) có cùng nội dung như Cố Đồng Chu đã gởi.

Phân tích hai bản báo cáo (của Cố Đồng Chu và Lưu Phong), Lâm Bưu rút ra hai điểm “nóng” nhất:

1. Mao Trạch Đông sắp ra tay hạ gục Lâm Bưu trong Hội nghị Trung ương đảng sắp  mở vào cuối tháng 9.1971. 2. Mao sẽ về Bắc Kinh “ngày 23.9”.

Điểm thứ nhất làm Lâm Bưu giận run người – vì cho biết Mao Trạch Đông muốn kết thúc số phận của nhà họ Lâm chỉ trong vòng hơn nửa tháng tới, nên buộc Lâm phải ra tay trước. Điểm thứ hai giúp Lâm Bưu nắm được ngày về Bắc Kinh của Mao Trạch Đông (23.9) để theo đó ấn định giờ đặt mìn giật sập cầu Thạc Phóng (nằm giữa Tô Châu và Vô Tích) hất chuyên xa chở Mao Trạch Đông xuống dòng nước xiết. Lúc bấy giờ (10.9.1971), việc thám sát địa điểm thích hợp để đặt mìn công phá đã xong, song vì hay tin “ngày 23.9” Mao mới về Bắc Kinh nên Lâm Bưu và Lâm Lập Quả chưa vội triển khai phương án đó. Không ngờ, Mao Trạch Đông quyết định thay đổi lịch trình, về sớm hơn dự định (xem Kỳ 13), nên chuyên xa chở ông đã vượt qua cầu Thạc Phóng an toàn.

Vậy là Mao Trạch Đông thoát khỏi “thần chết 571” ba lần: 1. Vương Duy Quốc không có cơ hội nổ súng ám sát. 2. Không thể tiếp cận để đánh bom kho xăng gần chuyên xa của Mao Trạch Đông ở sát sân bay Hồng Kiều (Thượng Hải) được. 3. Phương án gài mìn phá cầu Thạc Phóng phá sản trước giờ G.

Nhận tin Mao Trạch Đông thoát vòng vây, đang tiến về gần Bắc Kinh, Lâm Bưu và Diệp Quần sửng sốt, Lâm Lập Quả ôm mặt khóc.

Phần Mao Trạch Đông, lúc chuyên xa về đến ga Phong Đài trưa 12.9.1971, dầu chỉ cần chạy khoảng 20 phút là đến Bắc Kinh, nhưng ông ra lệnh dừng lại, không vào Bắc Kinh vội. Đây là động thái rất thận trọng của Mao Trạch Đông, vì ông biết Lâm Bưu đang nắm cơ mật của đảng và nhà nước, thông thuộc địa hình Trung Nam Hải, biết rất rõ vị trí các phòng ban của Trung ương đảng tại đó, nên ông phải hết sức cảnh giác, đề phòng Lâm Bưu có thể mở cuộc tập kích bất ngờ vào nơi ở của ông. Ông lệnh Lý Đức Sinh – Tư lệnh Quân khu Bắc Kinh và Ngô Đức – Bí thư thị ủy Bắc Kinh kiêm Ủy viên chính trị đơn vị đồn trú bảo vệ Bắc Kinh biết và chờ sẵn trong phòng trực ban của ga Phong Đài, bảo họ điều ngay tức khắc một sư đoàn của Quân đoàn 38 đến trấn ải cửa Nam của thủ đô, tạo vòng đai sắt an toàn cho Trung Nam Hải.

Lúc đó, Lâm Bưu biết kế hoạch ám sát Mao Trạch Đông đã bị vỡ, nên đã huy động 8 máy bay, trong đó có 2 chiếc Trident, 2 chiếc Il-18, 1 chiếc lên thẳng Skylark, để chở “bộ tư lệnh” của mình với các ủy viên Bộ chính trị “ăn cánh” đến Quảng Châu. Đồng thời phía Quảng Châu cũng sẵn sàng tiếp nhận máy bay hạ cánh để đón “trung ương đảng” của Lâm Bưu đến đó phát động cuộc nội chiến chống lại Mao Trạch Đông. Nếu trót lọt, hẳn nhiên sẽ không tránh được cảnh máu đổ ở “thành phố hoa mộc miên” Quảng Châu. Vào giờ phút cam go ấy, thủ tướng Chu Ân Lai đã xuất hiện…

Kỳ 15: Chu Ân Lai – mệnh lệnh lúc 0 giờ

Bằng vài cuộc điện thoại “xuất thần”, với khẩu lệnh đúng lúc, Thủ tướng Chu Ân Lai đã khống chế được hoạt động không quân nguy hiểm của phái đối kháng và đặt Lâm Bưu vào thế bị động hoàn toàn…


Chu Ân Lai (phải) – tác nhân chính trong cuộc đối phó
âm mưu đảo chính của Lâm Bưu

Mãi đến hơn 19 giờ (12.9.1971), lúc bóng đêm đã phủ xuống và hàng rào phòng vệ thủ đô triển khai xong, Mao Trạch Đông mới ra lệnh cho đoàn tàu khởi động rời khỏi ga Phong Đài. Khoảng nửa tiếng sau, tàu về đến ga Bắc Kinh lặng lẽ, không có một vị lãnh đạo nào được báo trước để ra đón, chỉ có các nhân viên Cục Cảnh vệ dàn sẵn dưới sân ga, cùng đưa ông lên xe phóng về Trung Nam Hải. Ở đó, vào nửa khuya, khi đã nghe báo cáo tổng hợp từ các kênh thông tin về hoạt động của phái đối kháng do Lâm Bưu cầm đầu, Mao Trạch Đông sai phát lệnh báo động chiến đấu cấp 1 tại Trung Nam Hải và nhanh chóng di chuyển khỏi chỗ ở. Trần Trường Giang – vệ sĩ ưu tú của Mao Trạch Đông kể lại, sau khi nghe thỉnh thị ý kiến về biện pháp bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai quyết định:

“Trước tiên cần di chuyển vào ở trong Đại lễ đường (…) Mao Chủ tịch ngồi trên chiếc xe du lịch, rời Trung Nam Hải, hướng về Đại lễ đường, đến đầu phố Trường An, ánh sáng đèn đường phản chiếu xuống màu ánh bạc, tạo cho ta cảm giác lạnh lẽo và yên tĩnh. Cư dân thủ đô vừa trải qua một mùa hè oi bức, nay bước vào đầu thu, không khí mát mẻ, mọi người đang yên giấc ngủ say. Họ đâu biết đang xảy ra một sự kiện kinh thiêng động địa và không ai có thể ngờ rằng đúng lúc khuya khoắt này Mao Chủ tịch phải dời chỗ ở, vào trong phòng số 118 của Đại lễ đường Nhân dân (…) sau này chúng tôi mới biết, chính đêm đó thủ tướng Chu Ân Lai ở tại phòng Phúc Kiến cạnh Đại lễ đường, chủ trì cuộc họp toàn đảng, toàn quân xử lý sự kiện Lâm Bưu…”. Mọi việc bỗng căng thẳng hơn vào 22 giờ 30 phút, lúc Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn cảnh vệ Trương Hồng và đại đội trưởng Khương Tác Thọ đang làm nhiệm vụ ở Bắc Đới Hà (nơi Lâm Bưu và gia đình đang trú ngụ) điện về Văn phòng Trung ương ở Bắc Kinh một tin khẩn cấp: “có một chiếc máy bay Trident khả nghi đang đậu sẵn trên sân bay Sơn Hải Quan”trong vùng.

Nhận tin trên, Chu Ân Lai điện hỏi Tư lệnh Không quân Ngô Pháp Hiến (người phía Lâm Bưu) về lý do có mặt của chiếc máy bay đó và được xác nhận:

– Thưa đúng, đó là chiếc máy bay đang được sửa chữa và cho bay thử đến sân bay Sơn Hải Quan. Bộ Tư lệnh Không quân đã yêu cầu máy bay trên quay trở lại Bắc Kinh nhưng chưa cất cánh được vì động cơ bị trục trặc gì đó.

Thấy câu trả lời của tư lệnh Ngô Pháp Hiến không đáp ứng được mong muốn của mình, thủ tướng quay qua phóng “tiếng nói điều tra” đến tận “bộ tư lệnh” của Lâm Bưu bằng cách điện thoại hỏi thăm phu nhân Diệp Quần về sức khỏe của nguyên soái chồng bà, rồi đột ngột ngoặt qua “chủ đề” chính, đại ý: “Đồng chí có biết một chiếc máy bay hiện đang có mặt tại sân bay Sơn Hải Quan gần chỗ ở của gia đình đồng chí không?”. Bà Diệp Quần đáp biết, nói thêm: đó là chiếc máy bay do con bà là Lâm Lập Quả bay đến: “Bố cháu nói nếu ngày mai thời tiết tốt sẽ dùng máy bay ấy bay dạo”. Nói qua lại đôi câu ngắn nữa, Chu Ân Lai khuyên bà một cách tế nhị: “Đừng bay nữa, không an toàn đâu. Phải nắm chắc tình hình thời tiết rồi hãy bay” (ý nói “thời tiết chính trị” đang không tốt mấy cho nhà họ Lâm).

Chu Ân Lai lại thông báo đến Lý Tác Bằng – Chính ủy Hải quân (người phái Lâm Bưu), về chiếc “máy bay lạ” đang đậu ở sân bay Sơn Hải Quan (sân bay này thuộc Hải quân), yêu cầu: Lý Tác Bằng không được cho máy bay ấy rời khỏi Sơn Hải Quan.

Chu Ân Lai lệnh: nếu không có đủ 4 người gồm ông (thủ tướng), Hoàng Vĩnh Thắng (Tổng tham mưu trưởng Quân đội), Ngô Pháp Hiến và Lý Tác Bằng cùng lúc cho phép, chiếc máy bay đang đậu ở Sơn Hải Quan không được cất cánh ! Lệnh ấy khác nào “giam” chiếc máy bay tại chỗ: “Sự nhạy bén, lão luyện của Chu Ân Lai khiến người ta khâm phục, một cú điện thoại trên đã phá tan âm mưu của Lâm Bưu chạy xuống Quảng Châu lập trung ương riêng ” – theo Tân Tử Lăng.

Ông còn “nhanh chóng phát lệnh nghiêm cấm các loại máy bay không được bay trên vùng trời Bắc Kinh (…) phái Lý Đức Sinh, Tư lệnh Quân khu Bắc Kinh, đến trực ban tại Phòng tác chiến Bộ tư lệnh Không quân liên tục 24/24 không được phép rời khỏi đó dù chỉ nửa bước cho đến khi có lệnh mới. Thủ tướng cử thêm Dương Đức Trung, phụ trách Văn phòng Trung ương trực tiếp đến sân bay nằm ở ngoại ô Bắc Kinh sẵn sàng hợp đồng tác chiến”. Lực lượng Không quân (mang yếu tố quyết định rất lớn trong nhiều cuộc đảo chánh) do phía Lâm Bưu đang nắm bỗng chốc bị khống chế. Thấy tình thế đã quá bất lợi, người của Lâm Bưu là Chu Vũ Trì, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Không quân, điện thoại báo động để Lâm Bưu và Lâm Lập Quả biết. Ở đường cùng, Lâm Bưu chọn giải pháp hết sức phiêu lưu là liều chết lên máy bay cố thoát về hướng Liên Xô vì “đối với Liên Xô, Lâm Bưu cũng gây được ảnh hưởng nhất định, thêm vào đó, thái độ của Liên Xô lúc đó đối với Trung Quốc và Đảng CSTQ có rất nhiều điểm giống với quan điểm của Lâm Bưu” – theo Trần Trường Giang. Cuộc chạy trốn bắt đầu lúc 23 giờ 40 phút đêm hôm ấy 12.9.

Giờ đó, chiếc xe hơi Hồng Kỳ chống đạn của Lâm Bưu xuất phát từ phía trong biệt thự số 86 trên núi Liên Phong của Bắc Đới Hà lao ra với tốc độ trên 100km/giờ chạy về phía sân bay Sơn Hải Quan bất chấp tất cả lệnh cấm để tiếp cận chiếc máy bay mang số 256 đang đậu sẵn trong bóng đêm…

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s